Ngày Nay số 157
SỨCKHỎE 15 Số157 - ThứNăm, ngày1.11.2018 T heo PGS-TS Trần Đình Hà-Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai, tại Bệnh viện Bạch Mai phương pháp miễn dịch trị liệu ung thư đã được áp dụng với các thuốc kháng thể đơn dòng ức chế các thụ thể PD-1 hoặc PD-L1 đang nghiên cứu và sẽ đưa vào ứng dụng liệu pháp miễn dịch tế bào với Lympho T (CAR-T cell) trong điều trị ung thư. Trong liệu pháp này, bệnh nhân được lấy máu, tách tế bàoT (những tế bàomiễndịch tìmvàdiệt tếbàoung thư), sau đólựachọn,nuôicấy,kíchhoạt nó đưa trở về cơ thể, biến nó thành“tế bào thiện chiến” tiêu diệt tế bào ung thư… Đây là hướng đi mà thế giới đã công nhận và đang tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực điều trị ung thưởngười. Còn tại Bệnh viện K, TS Đào Văn Tú, Phó khoa Điều trị theo yêu cầu cho biết: Việt Nam tham gia thử nghiệm lâm sàng từ 3-4 năm trước, áp dụng trong điều trị từ cuối năm 2017 đến nay được khoảng 30-50 bệnh nhân. Bước đầu trên từng cá thể có thể khẳng định đem lại hiệu quả nhiều, ở giai đoạn muộn giúp giảm kích thước khối u, giảm số lượng tế bào ung thư, kìm hãm sự phát triển của bệnh. Mặc dù, triển vọng về hiệu quả của phương pháp điều trị là rất lớn, tuy nhiên không phải bệnh nhân ung thư nào nào cũng có chỉ định điều trị phương thức này. Cùngmột loại ung thư nhưng không phải bệnh cảnh nào cũng có chỉ địnhmà tuỳ thuộc chủ yếu vào giai đoạn và đặc điểm khối u. “Thuốc có hiệu quả trị với một số loại ung thư, ở một số giai đoạn. Thời gian sống thêmkéo dài nhiều, trước những bệnh nhân bị u hắc tố sống vài tháng khi di căn thì nay có thể sống vài năm. Đây đã là điều rất ngoạn mục”. Tiến sĩ LêVănQuảng - Phó Giám đốc Bệnh viện K khẳng định: Có rất nhiều gene tham gia quá trình sinh ung thư nên bất kỳ thuốc nào cũng chỉ “đánh” vào một vài gene, một vài điểm nên phải kết hợp nhiều phương pháp, uống nhiều loại thuốc. Cốt lõi vẫn là phòng bệnh, trong quá trình điều trị không quên các phương pháp kinh điển đã áp dụng nhiều năm. Liệu phápmiễndịchđược ápdụng trong những trường hợp các phương pháp kinh điển không có tác dụng. Đâykhôngphảilàphương thức chữa khỏi ung thư giai đoạn di căn mà chỉ tiêu diệt phần nào và ức chế, kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư qua đó giúp kéo dài thời gian sống và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư. Hơn nữa trong điều trị ung thư, tuyệt đại đa số các trường hợp để điều trị hiệu quả cần phối hợp đa mô thức và toàn diện, không một phương thức đơn lẻ nào có thểmang lại thành công. ThS Phạm Tuấn Anh, Phó khoa Điều trị theo yêu cầu, Bệnh viện K cho biết: Khái niệm điều trị miễn dịch rất đơn giản là dùng thuốc kích hoạt hệ thống miễn dịch của cơ thể để tấn công ung thư. Phương thức điều trị miễn dịch này đã được áp dụng tại Bệnh viện K và một số cơ sở chuyên khoa ung thư trên cả nước trong những năm gần đây. Các thuốc tác động này vào “phanh” của hệ thống miễn dịch, giúp hệ thống này hoạt động lại để chống tế bào ung thư. Ở Việt Nam, Pembrolizumab là thuốc miễn dịchmới được cấp phép sử dụng trong thực hành lâm sàng điều trị ung thư từ cuối năm 2017 và đang được sử dụng ở một số bệnh viện. Tuy nhiên chi phí cho một chu kì điều trị lớn, khoảng 60-120 triệu đồng và chưa được bảo hiểmy tế chi trả. HÀDŨNG Chữa ung thư bằng điều trị miễn dịch ở Việt Nam Hai nhà bác học James P Allison người Mỹ và Tasuku Honjo người Nhật Bản vừa nhận giải Nobel khi tìm ra chốt kiểm miễn dịch. Dựa vào kết quả nghiên cứu này, các nhà sản xuất dược đã tạo ra loại thuốc miễn dịch điều trị ung thư. Tại Việt Nam, một số cơ sở điều trị đã sử dụng thuốc này. TS. LêVănQuảng, PGĐBệnhviệnK thông tinvềphươngphápđiều trịmiễndịch T heo GS-TS Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng thường trực Bộ Y tế, năm 2017 có khoảng 425 triệu người bị đái tháo đường trên thế giới ở độ tuổi từ 20 -79, dự kiến đến năm 2045, có khoảng 630 triệu người bị đái tháo đường. Đáng báo động, tỷ lệ phụ nữ mang thai mắc đái tháo đường thai kỳ ở TP Hồ Chí Minh có xu hướng tăng dần trong những năm qua, từ 2,1% (năm 1997) lên 4% (năm 2008) và khoảng 20% (năm 2017). Trong khi đó, tỉ lệ này ở Hà Nội là 5,7% vào năm 2004. Đái tháo đường thai kỳ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của bà mẹ và thai nhi. Người mẹ có thể mắc các bệnh lý như tăng huyết áp, bệnh lý võng mạc, bệnh lý mạch vành và nhiễm trùng tiết niệu, tăng nguy cơ tiền sản giật- sản giật và nguy cơ bị đái tháo đường thực sự trong tương lai…Phần lớn các nghiên cứu chỉ ra rằng bất thường bẩm sinh tăng gấp 3 lần ở thai nhi có mẹ mắc đái tháo đường thai kỳ trước đó mà không kiểm soát tốt. Vì vậy, theo các bác sĩ, thai phụ cần căn cứ vào một số dấu hiệu điển hình của tiểu đường thai kỳ để có thể thăm khám, can thiệp kịp thời. Một số biểu hiện của bệnh như: Luôn khát nước đến khô họng, dù thường xuyên uống nước nhưng thai phụ vẫn cảm thấy khát nước; buồn tiểu liên tục ngay cả khi không uống nhiều nước; mệt mỏi đến kiệt sức, cơn mệt mỏi xảy ra dồn dập. Nếu chế độ ăn uống đủ chất, nghỉ ngơi và không có dấu hiệu bị ốm nhưng vẫn mệt, thở dốc sau mỗi bữa ăn… Khi có một trong các biểu hiện trên, thai phụ cần thông báo cho bác sỹ trong mỗi lần đi khám để được làm các xét nghiệm cần thiết, phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời, tránh được những biến chứng đáng tiếc. PHONG CHÂU Gia tăng phụ nữ mắc đái tháo đường khi mang thai Ảnhminhhọa. Giai đoạn từnăm2001 đếnnăm2004, tỷ lệ phát hiện đái tháo đường thai kỳ chỉ khoảng 3%- 4%, nhưng đếnnăm 2017, tỷ lệ này đã tăng lênmức 20%trên tổng số thai phụ được khámtại các bệnh viện/ cơ sở y tế chuyên khoa.
Made with FlippingBook
RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==