Ngày Nay số 258

NGAYNAY.VN TIÊUĐIỂM 6 35 năm Đổi mới vừa qua, cùng với những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam, lý luận về CNXH cũng có nhiều bước tiến dài. Một trong số đó là việc xác định đặc trưng hàng đầu của mô hình CNXH ở Việt Nam là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dânchủ, côngbằngvănminh” (Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011). Hiện thực hóa quyền được làmăn, từ đó mà làm giàu của Dân và Nhà nước cónghĩabảo trợ, khuyến khích làm giàu hợp pháp là một hệ thống nhận thức gồm nhiều thành tố và dần hoàn thiện qua các kỳĐại hội Đảng. “Dân giàu”hiển nhiên liên quan trước hết đến lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là trong kinh tế thị trường. Còn gì tự nhiên hơn, lành mạnh hơn trong một nền kinh tế sống động, người dân được “làm ăn” và làmgiàu. Dân ở đây là Nhân dân, là những công dân đang tham gia sản xuất kinh doanh, chủ yếu là trong thành phần kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ, kinh tế hộ gia đình… Họ là những người dân “vất vả làm ăn, toan lo nghèo khó” và có khi chỉ mơ ước bình dị rằng “cầu vừa đủ xài” chứ chưa nói gì đến giàu có. Con người muốn giàu có cầnphải cóđiều kiện, mà điều kiện hàng đầu là quyền được sản xuất kinh doanh, còn gọi là quyền “dân chủ về kinh tế”. Nhân dân thì gọi là quyền được“làmăn”. Muốn làm giàu thì phải “được làm ăn”. Cái quyền chính đáng và tự nhiên ấy đôi khi đã chưa được nhận thức rõ. Những nỗi sợ về khả năng tự phát của “kinh tế sản xuất nhỏ hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tưbản”, những tư duy giáo điều, bảo thủ… đã từng là các trở lực bên trong cho quá trình tư duy và hiện thực hóa Dân giàu. Trong thời bao cấp, những hành động tự cứu, năng động kinh tế của người dân không được thừa nhậnvàbuộcphải tồn tại dưới dạng kinh tế ngầm, kinh tế cá thể, “chợ vỉa hè, chợ đen”. Còn người dân làm kinh tế thì bị gọi là“con buôn, phe phẩy, tư thương”… Người ta từng cho rằng, nhà nước XHCN với nguồn lực tập trung và năng lực kế hoạch hóa và khả năng tổ chức quản lý kiểu mệnh lệnh của mình có khả năng thay thế cho “bàn tay vô hình” và có thể lo cho cả xã hội một cách công bằng. Sở hữu toàn dân và tập thể chưa tương thích với trình độ sản xuất và chưa khơi dậy được những năng lực còn tiềm tàng trong Dân. Cơ chế quản lý tập trung, hành chính, chế độ bao cấp - bao tiêu trong thời chiến trước đây, cũng đã dần bộc lộ bất cập ở thời bình. “Những điều bất cập của kế hoạch hóa tập trung… nằm ngay trong bản thân của mô hình này, vì nó đặt ra một yêu cầu mà không một nhà bác học nào hay thậm chí cả một tập thể các nhà bác học giỏi nhất trên thế giới có thể giải quyết được” . Vì, “kế hoạch hóa” đã bỏ quênmấtmột yếu tố quan trọng nhất là sức Dân, là năng lực sản xuất ở trong Dân và sự sáng tạo của Nhân dân! Đại hội Đảng lần thứVI đã chỉ ra sựbất cập của tưduy cũ, rằng “Chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hoá đang tồn tại khách quan…”; “Chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài” mà “nóng vội muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh”. Tư duy ấy, vô hình trung, chưa tạo ra môi trường thuận lợi chonhândân làmăn và làmgiàu. Bài học kinh nghiệm mà Đại hội VI rút ra là “phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc”. “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng.” Nguyện vọng, lợi ích và khảnăng củadân lúc này là được làmăn và làmgiàu bằng sức của mình. Thật bình dị, tự nhiên và đúng quy luật! NgàyXuân bàn chuyện “Dân giàu” Nội dung quan trọng hàng đầu của dân giàu là Nhân dân được “làm ăn”, tự lo cuộc sống cho mình, là hiện thực hóa cái quyền “tự do mưu cầu hạnh phúc” như tinh thần của Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945. PGS.TS NGUYỄN AN NINH

RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==