chế tác kính lừng danh, còn Limoges ở Pháp tiếp tục tinh chỉnh kỹ thuật sản xuất thủy tinh màu. Riêng tại Hà Lan, nhà thờ Grote Saint-Jan ở Gouda vẫn bảo tồn gần như nguyên vẹn những ô cửa kính màu từ năm 1555, một chứng nhân lặng lẽ của thời kỳhoàng kim rực rỡ, nơi ánh sáng vẫn tìm được cách để rọi chiếu những sắcmàu. Tiffany - Ánh sáng từ nước Mỹ Khi những ô cửa kính màu đầu tiên xuất hiện tại Mỹ vào thế kỷ XVII, chúng không mang dấu ấn Mỹ mà là sản phẩm nhập khẩu từ châu Âu. Các nhà thờ thuộc địa khi đó chỉ sử dụng những mảnh kính nhỏ, ghép trong khung chì đơn giản để tạo hiệu ứng ánh sángdịunhẹ. Phải đến thế kỷ XIX, kính màu mới thực sự thoát khỏi cái bóng châu Âu, trở thành một loại hình nghệ thuật độc lập, phản ánh bản sắc văn hóa và tinh thần sáng tạo của nướcMỹ. Năm 1857, xưởng J&R Lamb Studios ra đời tại New York, đánhdấusựkhởi đầucủa ngành kính màu Mỹ. Những thập kỷ sau đó chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của các nghệ nhân nội địa, trong đó hai cái tên làm thay đổi cuộc chơi là John La Farge và Louis Comfort Tiffany. Họ không chỉ kế thừa kỹ thuật kính màu từ châu Âu mà còn cải tiến và định hình phong cách riêng. La Farge, với niềm đam mê khámphá vật liệu, đã phát minh ra kính opalescent vào năm 1880. Loại kính này có khả năng thay đổi màu sắc theo góc độ ánh sáng. Cũng trong giai đoạn đó, Tiffany, người sau này trở thành tượng đài của kính màu Mỹ, phát triển kỹ thuật tương tự nhưng với sự phức tạp hơn trong cách phối lớp màu, tạo ra những hiệu ứng ánh sáng huyền ảo chưa từng có. Tiffany không dừng lại ở những cửa sổ kính nhà thờ. Ông đưa kính màu bước vào thế giới nội thất qua những chiếc đèn huyền thoại, nơi ánh sáng không chỉ chiếu rọi mà còn tương tác đầy nghệ thuật với từng đường nét uốn lượn của phong cách Tân nghệ thuật (Art Nouveau). Những mẫu đèn Tiffany, lấy cảm hứng từ thiên nhiên với hoa huệ tây (Lily), hoa tử đằng (wisteria), chuồn chuồn (dragonfly)… không chỉ là vật dụng trang trí mà còn là biểu tượng của sự tinh tế và sang trọng trong thiết kếnội thấtMỹ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Đặc biệt, phương pháp lá đồng (copper foil) do Tiffany phát triển đã cách mạng hóa kỹ thuật chế tác kính màu, cho phép tạo ra những thiết kế tỉ mỉ và uyển chuyển hơn so với kỹ thuật ghép chì truyền thống của châu Âu. Sau một thời gian trầm lắng, những tác phẩm kính màu của Tiffany tiếp tục trở thành đối tượng săn lùng của giới sưu tầm trong thế kỷ XX. Khi thế giới dần nhận ra giá trị nghệ thuật độc đáo của chúng, những chiếc đèn Tiffany và kính màu Tiffany không còn đơn thuần là đồ trang trímàđã trở thành sựkết tinhhoànhảogiữa nghệ thuật và kỹ thuật thủ công bậc thầy. Ngày nay, xu hướng sưu tầm đèn và kính màu Tiffany vẫn tiếp tục bùng nổ trên toàn cầu. Những phiên đấu giá tại Sotheby’s hay Christie’s thường ghi nhận những mức giá kỷ lục, với một số mẫu đèn được bán ra với giá hàng triệu USD. Trong khi đó, các bảo tàng và nhà sưu tầm tư nhân vẫn không ngừng tìm kiếm, phục chế và bảo tồn những tác phẩm gốc nhằm gìn giữ di sản này. Tại Mỹ, sự hồi sinh của phong cách nội thất cổ điển càng làm gia tăng sức hút của đèn Tiffany, biến nó thànhmột biểu tượng của sự xa hoa, đẳng cấp và vẻ đẹp vượt thời gian. Nghệ thuật của kỷ nguyên mới Bước vào thế kỷ XXI, kính màu không còn bị bó hẹp trong những thánh đường cổ kính mà trở thành một phần quan trọng của đô thị hiệnđại, lan tỏa khắp các công trình kiến trúc đươngđại, từ tòanhà chọc trời, bảo tàng, thư viện, sân bay, ga tàu điện ngầmcho đến những không gian công cộngmở. Những nghệ sĩ và kiến trúc sư ngày nay không chỉ xem kính màu như một yếu tố trang trí mà còn là công cụ để tạo nên trải nghiệm thị giác độc đáo, biến mỗi không gian thành một tác phẩm nghệ thuật tương tác giữa ánh sáng và con người. Tác phẩm“Cội rễ của tri thức” (Roots of Knowledge) tại Đại học Utah Valley, một bức tường kính dài 61 mét, là minh chứng điển hình, khi kính màu không chỉ mang tính trang trí mà còn trở thành một cuốn biên niên sử trực quan, kể lại toàn bộ lịch sử nhân loại bằng hình ảnh và màu sắc sống động. Nếu trước đây, kính màu bị giới hạn bởi kỹ thuật ghép chì, thì ngày nay, những phương pháp tiên tiến như ghép kính vỡ với bê tông hoặc epoxy, xếp chồng các lớp kính để tạo chiều sâu mà không cần đường viền chì, hay các công nghệ cắt laser, in kỹ thuật số trên kính đã mở ra một kỷ nguyên mới cho loại hình nghệ thuật này. Sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại và kỹ thuật thủ công truyền thống giúp kính màu đạt tới những mức độ phức tạp chưa từng có, từ các hiệu ứng thị giác ba chiều đến khả năng thay đổi màu sắc tùy theo cường độ ánh sáng. Thế kỷ XXI còn chứng kiến sự trỗi dậy của một thế hệ nghệ sĩ kính màu đương đại, những người đã phá vỡ mọi giới hạn truyền thống để biến chất liệu này thành ngôn ngữ thị giác đầy sức mạnh. Judith Schaechter, Kehinde Wiley, Brian Clarke, Graham Jones và nhiều nghệ sĩ khác đã không ngừng thử nghiệm, sáng tạo, đưa kính màu vào những hình thức hoàn toàn mới. Từ những tác phẩm trừu tượng mang tính phản biện xã hội đến các sắp đặt nghệ thuật quy mô lớn, kính màu ngày nay không chỉ đơn thuần là vật liệu kiến trúc mà còn là công cụ thể hiện quan điểm cá nhân, truyền tải những câu chuyện về con người, văn hóa và xã hội. Nếu như trước đây, kính màu là thứ ánh sáng dẫn lối trong các thánh đường, thì ngày nay, nó là ánh sáng của thời đại, chiếu rọi những vấn đề và suy tư của thế giới đương đại.n Việc sưu tầmkínhmàu và đèn trang trí Tiffany không chỉ thể hiện niềm đammê với nghệ thuật mà còn làmột cách gìn giữ những giá trị lịch sử độc đáo. Qua thời gian, mỗi tác phẩmTiffany không chỉ làmột kiệt tác mà còn làminh chứng cho sự phát triển của nghệ thuật kínhmàu trong lịch sử nhân loại. Cửa sổhoahồng (rosewindow) củaNhà thờSainte-Chapelle (Pháp) có tuổi đời hơn800năm. Tác phẩm“Cội rễ của tri thức” tại Đại họcUtah Valley (Mỹ). NGAYNAY.VN 9 CHUYÊNĐỀ Số420 | ThứNăm, ngày 13/3/2025
RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==