487-488-489-490-491

mạnh thêm từ nay đến cuối năm 2026 và có thể kéo dài sang đầu năm 2027. Hiện nay, xác suất xuất hiện El Nino với cường độ rất mạnh là khoảng 60-65%, có diễn biến tương tự El Nino năm 2023 và có cường độ tương đương sự kiện El Nino 2015-2016, đồng thời có thể nằm trong nhóm các đợt El Nino mạnh nhất kể từ năm 1950. “Nếu kịch bản này xảy ra, Việt Nam có nguy cơ đối mặt với nền nhiệt cao hơn trung bình nhiều năm, số đợt không khí lạnh giảm, lượng mưa thiếu hụt trên diện rộng, đặc biệt tại Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn trong các tháng cuối năm 2026 và đầu năm 2027,” Phó Cục trưởng Đặng Thanh Mai nhấn mạnh. Nhìn lại lịch sử, các đợt El Nino mạnh thường để lại những tác động rất rõ nét đối với thời tiết, khí hậu và thiên tai ở Việt Nam. Gần đây nhất là đợt El Nino 2015-2016, được đánh giá là một trong những sự kiện El Nino mạnh nhất kể từ năm 1950, có cường độ tương đương các đợt El Nino mạnh đã từng xảy ra vào các năm 1982-1983 và 1997-1998. Tác động nổi bật nhất trong giai đoạn 2015-2016 là tình trạng nắng nóng kéo dài và khốc liệt. Năm 2015 ghi nhận một mùa nắng nóng diện rộng đặc biệt gay gắt. Đợt nắng nóng dài nhất năm tại khu vực ven biển Trung Bộ đã vượt qua kỷ lục năm 2014, kéo dài 32 ngày ở Nam Trung Bộ, 36 ngày ở Trung Trung Bộ, 39 ngày ở Bắc Trung Bộ. Trong đợt nắng nóng này, nhiệt độ cao nhất tại Bắc Trung Bộ phổ biến từ 39-41 độ C, trong đó nhiệt độ cao nhất năm 2015 ghi nhận tại trạm Con Cuông (Nghệ An) lên tới 42,7 độ C vào ngày 30/5. Cùng với đó, lượng mưa thiếu hụt trên diện rộng đã dẫn đến tình trạng hạn hán nghiêm trọng. Từ cuối năm 2015 sang đầu năm 2016, lượng mưa suy giảm kéo dài khiến dòng chảy trên nhiều hệ thống sông ở Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ thiếu hụt đáng kể. Xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện sớm, lấn sâu vào nội đồng và gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống người dân. “Những diễn biến trong giai đoạn 2015-2016 cho thấy tác động đáng lo ngại nhất của El Nino đối với Việt Nam thường là nắng nóng kéo dài, thiếu hụt mưa, hạn hán và xâm nhập mặn, trong khi số lượng bão có xu hướng giảm so với trung bình nhiều năm”, bà Mai thông tin thêm. Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đa thiên tai Nhìn từ góc độ quản lý vĩ mô, theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành, những rủi ro từ khí tượng thủy văn hiện nay không còn là bài toán riêng lẻ của một ngành, một lĩnh vực mà đã trở thành thách thức mang tính hệ thống đối với sự phát triển bền vững quốc gia. Dù vậy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhìn nhận rằng trong thách thức luôn tồn tại những cơ hội nếu các bên chủ động chiến lược thích ứng. “Lợi thế cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh khủng hoảng khí hậu toàn cầu không nằm ở việc chịu tác động ít hay nhiều, mà nằm ở năng lực dự báo sớm hơn, hành động nhanh, điều hành khoa học và khả năng chống chịu tốt hơn,” ông Thành nói. Ông Thành cũng lưu ý Việt Nam sở hữu những nền tảng thuận lợi từ hệ thống hạ tầng thủy lợi, các công trình kiểm soát nguồn nước được đầu tư bài bản, cùng kho tàng kinh nghiệm thực tiễn phong phú trong quản lý rủi ro thiên tai. Đồng thời, vị thế quốc tế của ngành khí tượng thủy văn nước nhà ngày càng được khẳng định khi chúng ta đang vận hành hiệu quả Trung tâm Hỗ trợ Cảnh báo thời tiết nguy hiểm và lũ quét khu vực Đông Nam Á. “Vì vậy, nếu phát huy tối đa các nguồn lực này, chuyển hóa thông tin dự báo chính xác thành hành động chỉ đạo kịp thời, Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động giảm thiểu thiệt hại, bảo vệ sinh kế nhân dân”, ông Thành lưu ý. Với tinh thần đó, Thứ trưởng Lê Công Thành nhấn mạnh để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược trên, ngành khí tượng thủy văn cần quyết liệt thực hiện việc chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy dự báo hiện tượng sang tư duy dự báo dựa trên tác động; khẩn trương hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và xây dựng hệ thống chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực. Đồng thời các bộ, ban, ngành, chính quyền các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp chặt chẽ với ngành khí tượng thủy văn để xây dựng, hoàn thiện các kịch bản ứng phó chi tiết, linh hoạt, quyết tâm chuyển hóa nguy cơ thành cơ hội phát triển; tập trung cung cấp các luận cứ khoa học, thực tiễn sắc bén để phục vụ cho tiến trình hoàn thiện thể chế, chính sách của ngành, trọng tâm là việc nghiên cứu, sửa đổi Luật Khí tượng Thủy văn theo hướng hiện đại, đồng bộ. “Hành lang pháp lý mới phải thúc đẩy việc phát triển dịch vụ khí hậu, nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thiên tai trong kỷ nguyên số. Đây cũng là bước đi cụ thể để Việt Nam thực hiện hóa cam kết đối với sáng kiến ‘Cảnh báo sớm cho tất cả mọi người’ của Liên Hợp Quốc, phấn đấu trở thành quốc gia hình mẫu trong khu vực về năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu vào năm 2027,” ông Thành nhấn mạnh. n Nếu kịch bản này xảy ra, Việt Nam có nguy cơ đối mặt với nền nhiệt cao hơn trung bình nhiều năm, số đợt không khí lạnh giảm, lượng mưa thiếu hụt trên diện rộng, đặc biệt tại Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn trong các tháng cuối năm 2026 và đầu năm 2027. Bà Đặng Thanh Mai - Phó Cục trưởng Cục Khí tượng thủy văn, Bộ NN&MT của EL Nino NGAYNAY.VN 9 CHUYÊN ĐỀ Số Tháng 7/2026

RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==