So thang 9-2026

Từ NGHỊ QUYẾT80 đến Thập kỷ quốc tế về văn hóa Ảnh: TTXVN

Ngày 4/9/2026, tại New York, Hoa Kỳ, Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 80 đã thông qua Nghị quyết phát động “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững 2027 - 2036”. Sáng kiến do Việt Nam khởi xướng, cùng nhóm nòng cốt gồm Cyprus, Italy, Lào, Qatar và Saint Kitts và Nevis thúc đẩy, đã nhận được sự đồng bảo trợ của 103 quốc gia. Ý nghĩa của sự kiện không chỉ nằm ở số lượng quốc gia đồng bảo trợ mà điều quan trọng hơn là một ý tưởng bắt đầu từ Việt Nam đã tìm được tiếng nói chung giữa những đất nước rất khác nhau về lịch sử, văn hóa, điều kiện phát triển và lợi ích. Trong ngoại giao đa phương, để đi được đến sự đồng thuận như vậy không hề đơn giản. Một sáng kiến chỉ có thể được đón nhận rộng rãi khi các quốc gia khác nhận thấy trong đó không chỉ có mối quan tâm của nước đề xuất, mà còn có câu chuyện của chính mình. Với Thập kỷ 2027 - 2036, điểm gặp gỡ ấy chính là văn hóa. Văn hóa - Trung tâm của câu chuyện phát triển Trong một thời gian dài, phát triển thường được nói đến bằng những chỉ số quen thuộc như tốc độ tăng trưởng, thu nhập, đầu tư, thương mại, công nghiệp hay hạ tầng. Văn hóa đôi khi vẫn được xem như một lĩnh vực riêng, chủ yếu gắn với bảo tồn di sản, khuyến khích nghệ thuật hoặc chăm lo đời sống tinh thần. Nhưng thực tế đang đặt ra nhiều câu hỏi rộng hơn. Một thành phố có thể có thêm nhiều cao ốc nhưng lại dần mất đi những không gian làm nên ký ức và bản sắc của mình. Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh nhưng chưa chắc tạo ra một xã hội gắn bó và nhân văn hơn. Công nghệ có thể kết nối hàng tỷ người, đồng thời cũng khiến những cộng đồng nhỏ đứng trước sức ép chưa từng có về ngôn ngữ, lối sống và căn tính văn hóa. Bởi vậy, phát triển ngày nay không chỉ là làm ra thêm bao nhiêu của cải. Điều cần quan tâm còn là sự phát triển ấy tạo ra một đời sống như thế nào, con người được đặt ở đâu và chúng ta sẽ để lại điều gì cho các thế hệ sau. Văn hóa, nhìn từ đó, không phải phần trang trí được bổ sung sau khi kinh tế đã phát triển. Văn hóa hiện diện ngay trong cách một xã hội lựa chọn con đường đi, cách con người sống với nhau và cách mỗi cộng đồng ứng xử trước những thay đổi của thời đại. Nghị quyết được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua đã đặt văn hóa trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển con người, sáng tạo, bản sắc, gắn kết xã hội, tăng trưởng bền vững và sự tham gia của cộng đồng. UNESCO được mời giữ vai trò đầu mối trong việc xây dựng kế hoạch triển khai Thập kỷ. Gần 40 năm sau Thập kỷ thế giới về Phát triển văn hóa 1988 - 1997, cộng đồng quốc tế một lần nữa dành trọn một thập kỷ để thúc đẩy vai trò của văn hóa. Lần này, ý tưởng khởi nguồn từ Việt Nam. cùng chấp nhận, là giải thích một ý tưởng sao cho mỗi đối tác đều nhận thấy lợi ích chung, là kiên nhẫn lắng nghe những băn khoăn khác nhau rồi từng bước mở rộng sự đồng thuận. Một sáng kiến quốc gia chỉ thực sự thành công khi nó không còn được nhìn như câu chuyện của riêng quốc gia khởi xướng, mà trở thành mối quan tâm và trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế. Thành công của Thập kỷ văn hóa 2027 - 2036 có ý nghĩa chính ở điểm đó. Từ chỗ tham gia đến chủ động đóng góp Nếu đặt sự kiện trong hành trình đối ngoại của Việt Nam, có thể thấy một bước chuyển khá rõ. Sau chiến tranh, ngoại giao Việt Nam trải qua một chặng đường dài để phá thế bao vây, mở rộng quan hệ, tạo dựng môi trường hòa bình và thuận lợi cho công cuộc đổi mới. Tiếp đó là quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào Một hành trình được tạo nên từ sự kiên trì Dấu mốc tại New York không xuất hiện trong một sớm một chiều. Việt Nam đã từng bước đưa sáng kiến ra tham vấn tại UNESCO, trao đổi với các quốc gia thành viên và vận động sự ủng hộ của các đối tác. Tại kỳ họp Đại hội đồng UNESCO lần thứ 43 ở Samarkand, Uzbekistan năm 2025, đề xuất nhận được sự đồng thuận rộng rãi, tạo thêm cơ sở để Việt Nam tiếp tục đưa sáng kiến tới Liên hợp quốc. Từ một đề xuất ban đầu, nhóm quốc gia cùng thúc đẩy dần được mở rộng. Các vòng trao đổi, tham vấn và hoàn thiện nội dung tiếp tục diễn ra cho đến khi sáng kiến nhận được sự đồng bảo trợ của 103 quốc gia. Ngoại giao đa phương phần lớn được làm nên từ những công việc bền bỉ như vậy. Không phải lúc nào cũng là những sự kiện lớn hay những tuyên bố dễ gây chú ý mà đôi khi, đó là việc tìm một cách diễn đạt để các bên có thể VIỆT NAM ĐÓNG GÓP SÁNG KIẾN CHO TƯƠNG LAI VĂN HÓA THẾ GIỚI: Khi một sáng kiến từ Việt trở thành câu chuyện chung HỮU QUANG Việc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết phát động “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững 2027 - 2036” không chỉ đánh dấu thành công của một sáng kiến do Việt Nam khởi xướng, mà còn cho thấy, Việt Nam đang đi từ chỗ tham gia vào các công việc chung của thế giới đến chủ động đề xuất những ý tưởng có khả năng kết nối cộng đồng quốc tế. Từ chỗ cần có mặt, Việt Nam từng bước tham gia tích cực hơn, đảm nhận nhiều trọng trách hơn và đóng góp thực chất hơn vào những công việc chung. Không chỉ vậy, Việt Nam còn chủ động đưa ra đề xuất để kết nối cộng đồng mà sáng kiến về Thập kỷ văn hóa là một minh chứng. NGAYNAY.VN 2 Số tháng 9/2026 TIÊU ĐIỂM

Nam của thế giới ASEAN, Liên hợp quốc, APEC và nhiều cơ chế đa phương khác. Từ chỗ cần có mặt, Việt Nam từng bước tham gia tích cực hơn, đảm nhận nhiều trọng trách hơn và đóng góp thực chất hơn vào những công việc chung. Không chỉ vậy, Việt Nam còn chủ động đưa ra đề xuất để kết nối cộng đồng mà sáng kiến về Thập kỷ văn hóa là một minh chứng. Việt Nam không đưa ra một đề xuất chỉ liên quan đến lợi ích của riêng mình. Văn hóa đủ gần gũi với từng dân tộc nhưng cũng đủ rộng để trở thành một vấn đề chung của nhân loại. Một quốc đảo nhỏ lo ngại di sản bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu có thể nhận thấy mối quan tâm của mình trong sáng kiến. Một nước đang phát triển muốn tạo thêm việc làm từ kinh tế sáng tạo cũng có thể tìm thấy cơ hội. Những quốc gia phát triển đang đối diện với các vấn đề về trí tuệ nhân tạo, bản quyền và đa dạng văn hóa cũng có lý do để cùng tham gia. Nhìn theo cách ấy, điều đáng nhớ phía sau con số 103 không chỉ là hơn một trăm quốc gia ủng hộ một sáng kiến của Việt Nam mà chính là họ đã tìm thấy một phần câu chuyện của mình trong ý tưởng mà Việt Nam đề xuất. Một sáng kiến mang theo trải nghiệm Việt Nam Việt Nam có nhiều lý do để nói về văn hóa, không chỉ bởi đất nước sở hữu một kho tàng di sản phong phú, mà còn bởi lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc gặp gỡ, tiếp nhận và biến đổi văn hóa. Hội An từng là thương cảng nơi người Việt, người Hoa, người Nhật và thương nhân phương Tây gặp gỡ, làm ăn, sinh sống. Qua hàng trăm năm giao thoa, đô thị ấy không trở thành bản sao của một nền văn hóa nào mà tạo nên một diện mạo riêng, vừa cởi mở vừa rất Việt Nam. Huế cũng được bồi đắp từ nhiều lớp văn hóa, từ kiến trúc, âm nhạc đến ẩm thực và đời sống cung đình. Sau tất cả những tiếp nhận và sáng tạo, Huế vẫn là một không gian văn hóa khó nhầm lẫn với bất cứ nơi nào khác. Ẩm thực Việt Nam cũng kể một câu chuyện tương tự. Nhiều nguyên liệu và kỹ thuật chế biến đi vào đời sống từ những cuộc tiếp xúc Đông - Tây, rồi được điều chỉnh, biến đổi để tạo thành phở, bánh mì, cà phê và nhiều món ăn mà chỉ cần nhắc tên, người ta đã nghĩ đến Việt Nam. Một đặc điểm đáng quý của văn hóa Việt Nam là khả năng tiếp nhận cái mới mà không dễ đánh mất mình. Kinh nghiệm ấy vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại toàn cầu hóa. Giữ gìn bản sắc không có nghĩa là đóng cửa. Một nền văn hóa sống luôn phải biết gặp gỡ, tiếp nhận và thay đổi, tạo ra những giá trị mới. Giữ di sản bằng cách để di sản tiếp tục sống Việt Nam có một hệ thống di sản và danh hiệu UNESCO phong phú. Tuy nhiên, giá trị của những danh hiệu ấy cuối cùng vẫn phải được thể hiện trong đời sống của cộng đồng. Hội An hấp dẫn không chỉ vì những ngôi nhà cổ được gìn giữ. Thành phố có sức sống bởi trong những ngôi nhà ấy vẫn có người sinh sống, vẫn có nghề thủ công, ẩm thực, buôn bán và lễ hội. Trên nền di sản, những hoạt động nghệ thuật, thiết kế và du lịch trải nghiệm tiếp tục được hình thành. Từ khi tham gia Mạng lưới các Thành phố sáng tạo của UNESCO trong lĩnh vực thiết kế, nhiều không gian cũ ở Hà Nội được nhìn nhận bằng một cách khác. Một nhà máy không còn hoạt động có thể trở thành không gian nghệ thuật. Những thử nghiệm ấy còn khiêm tốn nhưng gợi ra một cách nhìn đáng suy nghĩ: Bảo tồn không nhất thiết là giữ mọi thứ đứng yên. Đôi khi, cách tốt nhất để giữ lại một di sản là giúp nó có thêm một đời sống mới. Mạch suy nghĩ ấy cũng xuất hiện trong hoạt động đối ngoại nhân dân. Tháng 8/2024, tại Hạ Long, trong khuôn khổ Hội nghị Ban Chấp hành Liên hiệp các Hội UNESCO Thế giới, các đại biểu đã thông qua Tuyên ngôn Hạ Long về “Kinh tế sáng tạo - Kết nối văn hóa vì hòa bình và phát triển bền vững”. Đây là hoạt động của mạng lưới UNESCO phi chính phủ, không phải văn kiện của UNESCO và cũng không phải tiền đề thể chế trực tiếp của sáng kiến Thập kỷ. Dù vậy, sự kiện cho thấy ngay trong mạch đối ngoại nhân dân, Việt Nam cũng đã chủ động tạo diễn đàn, kết nối các tổ chức quốc tế và đóng góp những ý tưởng liên quan đến văn hóa, sáng tạo và phát triển. Trong nhiều năm, Việt Nam đã nỗ lực để thế giới công nhận và trân trọng các di sản của mình. Và giờ đây, Việt Nam tiến thêm một bước: Không chỉ đề nghị cộng đồng quốc tế ghi nhận những giá trị văn hóa của Việt Nam, mà còn đề xuất một cách nhìn rộng hơn về vai trò của văn hóa trong tương lai phát triển của thế giới. n Một sáng kiến quốc gia chỉ thực sự thành công khi nó không còn được nhìn như câu chuyện của riêng quốc gia khởi xướng, mà trở thành mối quan tâm và trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế. NGAYNAY.VN 3 TIÊU ĐIỂM Số tháng 9/2026

Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết chỉ rõ, văn hóa và con người được xác định là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực lớn, trụ cột và “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Khái niệm “hệ điều tiết” gợi ra một cách nhìn rộng hơn về vai trò của văn hóa. Một nền kinh tế cần tăng trưởng, một đô thị cần phát triển, khoa học và công nghệ cần liên tục đổi mới, nhưng phát triển đến đâu, lựa chọn điều gì và đâu là những giá trị không nên đánh đổi, những câu hỏi ấy cuối cùng đều liên quan đến văn hóa và hệ giá trị của xã hội. Một khu phố cũ có thể rất đắt nếu tính bằng mét vuông đất nhưng còn quý hơn nếu đó là ký ức và căn cước của cả một thành phố. Một di sản có thể thu hút nhiều khách du lịch nhưng nếu người dân sở hữu di sản không được hưởng lợi thì sự phát triển khó bền vững. Một công nghệ có thể mang lại hiệu quả lớn nhưng cách sử dụng nó vẫn cần được điều chỉnh bởi trách nhiệm, đạo đức và sự tôn trọng con người. Văn hóa, vì thế, không đứng ngoài tiến trình phát triển. Nó giúp chúng ta biết cần đi nhanh đến đâu, đi bằng cách nào. Khi câu chuyện trong nước gặp câu chuyện của thế giới Không lâu sau khi Nghị quyết 80 được ban hành, ngày 28/1/2026, UNESCO có thông điệp chúc mừng Việt Nam. UNESCO đánh giá cao bước chuyển trong tư duy phát triển văn hóa, nhất là việc Việt Nam không xem văn hóa như một lĩnh vực bổ trợ mà đặt văn hóa vào cấu trúc của phát triển bền vững. Sự ghi nhận ấy càng có ý nghĩa khi đầu tháng 9/2026, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua sáng kiến Thập kỷ quốc tế do Việt Nam khởi xướng. Nghị quyết 80 và Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc là hai văn kiện khác nhau, được hình thành trong những khuôn khổ khác nhau. Tuy nhiên, đặt cạnh nhau, có thể thấy giữa điều Việt Nam muốn thực hiện trong nước và thông điệp Việt Nam đưa VIỆT NAM ĐÓNG GÓP SÁNG KIẾN CHO TƯƠNG LAI VĂN HÓA THẾ GIỚI: Từ Nghị quyết 80 đến Thập kỷ NGỌC TRANG - HỮU MINH Năm 2026 chứng kiến hai chuyển động có ý nghĩa đặc biệt. Trong nước, Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt văn hóa vào vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước. Trên trường quốc tế, sáng kiến của Việt Nam về “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững 2027 - 2036” được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua. ra với thế giới là sự nhất quán về quan điểm, chủ trương. Theo đó, văn hóa không chỉ là di sản của quá khứ mà còn là nguồn lực cho hiện tại và tương lai, không chỉ cần được bảo vệ mà còn cần được khơi thông để tham gia trực tiếp vào phát triển con người, kinh tế và xã hội. Nghị quyết 80 cũng không dừng lại ở một định hướng chung. Chính phủ đã ban hành chương trình hành động và tiếp tục điều chỉnh, bổ sung trong tháng 6/2026. Từ đây, vấn đề không còn chỉ là chúng ta nhận thức thế nào về văn hóa, mà là nhận thức ấy sẽ đi vào chính sách, nguồn lực và đời sống ra sao. Cần tạo sức mạnh tương xứng Việt Nam không thiếu nguồn lực văn hóa. Chúng ta có Hạ Long, Huế, Hội An, Tràng An; có ca trù, quan họ, hát xoan, nhã nhạc cung đình và không gian cồng chiêng Tây Nguyên. Chúng ta có gốm Bát Tràng, tranh dân gian, áo dài, những làng nghề lâu đời và kho tàng hoa văn phong phú của các dân tộc. Văn học, lịch sử và văn hóa dân gian cũng để lại một nguồn chất liệu gần như vô tận, từ Truyện Kiều, Thánh Gióng, Sơn Tinh - Thủy Tinh đến hàng nghìn truyền thuyết, nhân vật và ký ức của mỗi vùng đất. Cùng với đó là một nền ẩm thực mà chỉ cần nhắc tới phở, bánh mì NGAYNAY.VN 4 Số tháng 9/2026 TIÊU ĐIỂM

quốc tế về văn hóa hay cà phê, nhiều người nước ngoài đã nghĩ đến Việt Nam. Đó là một vốn liếng đáng quý. Tuy nhiên, có nhiều chất liệu văn hóa và xây dựng được một nền công nghiệp văn hóa mạnh là hai việc rất khác nhau, và là một chặng đường dài nhiều thách thức. Hàn Quốc không tạo ra làn sóng văn hóa toàn cầu chỉ vì có một lịch sử lâu đời. Phía sau K-pop, phim truyền hình hay điện ảnh Hàn Quốc là cả một hệ sinh thái gồm đào tạo, sản xuất, đầu tư, truyền thông và phân phối. Nhật Bản cũng không chỉ dựa vào đền chùa và truyền thống. Manga, anime, trò chơi điện tử, thời trang và thiết kế đã đưa những yếu tố văn hóa Nhật Bản vào đời sống hằng ngày của hàng triệu người trên thế giới. Điều cần suy nghĩ đối với Việt Nam không còn là chúng ta có đủ chất liệu hay không. Câu hỏi đặt ra chính là làm thế nào để những chất liệu ấy trở thành các bộ phim mà người khác muốn xem, những bài hát họ muốn nghe, những trò chơi họ muốn trải nghiệm và những sản phẩm họ muốn sử dụng. Muốn vậy, cảm hứng sáng tạo thôi chưa đủ. Người làm văn hóa cần được bảo vệ quyền tác giả, có cơ hội tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp cần nhìn thấy khả năng phát triển dài hạn. Các sản phẩm cần có hệ thống phân phối đủ mạnh để đến được với công chúng trong nước và quốc tế. Nghị quyết 80 đặt ra yêu cầu phát huy văn hóa để thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia. Tuy nhiên, sức mạnh mềm không đơn giản là tổ chức thêm những tuần văn hóa, chương trình biểu diễn hoặc chiến dịch quảng bá ở nước ngoài. Những hoạt động đó vẫn cần thiết, một tuần phim, một chương trình áo dài hay một sự kiện giới thiệu ẩm thực đều có thể giúp công chúng hiểu thêm về Việt Nam. Nhưng sức mạnh mềm chỉ thực sự được hình thành khi người khác tự tìm đến văn hóa của mình vì họ yêu thích và cảm thấy có sự gắn bó. Người trẻ ở nhiều nước nghe nhạc Hàn Quốc vì họ thấy hấp dẫn, không phải vì có ai yêu cầu phải tìm hiểu Hàn Quốc. Nhiều người muốn tới Nhật Bản sau khi xem truyện tranh hay hoạt hình, bởi từ trước chuyến đi, họ đã hình thành một mối liên hệ tình cảm với đất nước ấy. Khi đó, sản phẩm văn hóa tự kể câu chuyện về một quốc gia. Nó đi xa hơn một chiến dịch quảng bá và ở lại lâu hơn trong trí nhớ của công chúng. Việt Nam đã có những tín hiệu tích cực. Chất liệu dân gian xuất hiện ngày càng nhiều trong âm nhạc đương đại. Các nhà thiết kế trẻ tìm về hoa văn và kỹ thuật thủ công truyền thống. Ẩm thực Việt Nam hiện diện rộng hơn trên thế giới. Những không gian cũ tại Hà Nội được thử nghiệm cho nghệ thuật và thiết kế. Di sản Hội An được kết nối với nghề thủ công, sáng tạo và du lịch trải nghiệm. Tuy vậy, phần lớn thành công vẫn mang dấu ấn của những cá nhân hoặc nhóm sáng tạo riêng lẻ. Để trở thành sức mạnh quốc gia, những hạt giống ấy cần được đặt trong một môi trường thuận lợi hơn, nơi người sáng tạo có thể sống bằng nghề, doanh nghiệp dám đầu tư dài hạn và sản phẩm văn hóa Việt Nam tìm được đường đến thị trường quốc tế. Giữ văn hóa trong thời đại AI Giữ văn hóa trong thời đại AI là một vấn đề đặt ra khi trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số đang thay đổi cách con người sáng tạo, phổ biến và tiếp nhận văn hóa. Trên chiếc điện thoại của một người trẻ Việt Nam hôm nay có thể cùng lúc xuất hiện phim Mỹ, K-pop, anime Nhật Bản, game Trung Quốc và nội dung từ hàng chục quốc gia. Không thể và cũng không nên dựng hàng rào ngăn những dòng chảy ấy. Một nền văn hóa muốn tồn tại trong môi trường mở phải có đủ sức hấp dẫn để công chúng tự tìm đến. Giữ gìn bản sắc vì thế không thể chỉ dựa vào lời kêu gọi. Cách bền vững hơn là làm cho văn hóa Việt Nam trở nên gần gũi với đời sống hiện đại, để người trẻ có thể tìm thấy trong đó niềm vui, cảm hứng và cơ hội sáng tạo. Công nghệ, nếu được sử dụng đúng, có thể mở ra khả năng rất lớn. Nghị quyết 80 đặt ra yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số và số hóa di sản. Tuy nhiên, số hóa sẽ có ý nghĩa hơn nếu không chỉ dừng ở việc chụp ảnh, quét tài liệu hay lập hồ sơ điện tử. Kho hoa văn của các dân tộc Việt Nam có thể được xây dựng thành cơ sở dữ liệu để các nhà thiết kế tìm hiểu và khai thác có trách nhiệm. Di tích có thể được mô hình hóa 3D để học sinh tham quan bằng công nghệ thực tế ảo. Những làn điệu cổ có thể được lưu trữ có cấu trúc, giúp nghệ sĩ trẻ dễ dàng tìm kiếm. Truyện dân gian, lịch sử và ký ức cộng đồng có thể trở thành nguồn dữ liệu cho điện ảnh, hoạt hình và trò chơi điện tử. Khi đó, di sản không chỉ được cất giữ trong kho lưu trữ. Di sản tiếp tục đi vào đời sống và sinh ra những sáng tạo mới, đó mới là một trong những cách bảo tồn tự nhiên và hiệu quả nhất. *** Có một điều thú vị trong hành trình của sáng kiến Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững. Sáng kiến Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững bắt đầu từ Việt Nam, đi qua UNESCO, tới Đại hội đồng Liên hợp quốc, được hơn một trăm quốc gia đồng bảo trợ và từ năm 2027 sẽ trở thành một chương trình hành động của cộng đồng quốc tế. Nhưng sau hành trình ấy, câu hỏi quan trọng nhất đối với chúng ta lại trở về với chính Việt Nam: Chúng ta sẽ làm gì với ý tưởng do mình khởi xướng? Nghị quyết số 80 - NQ/ TW đã xác định hướng đi. Chương trình hành động của Chính phủ đang chuyển những định hướng ấy thành nhiệm vụ cụ thể. Thập kỷ 2027 - 2036 mở thêm một không gian quốc tế thuận lợi để Việt Nam kết nối nguồn lực, chia sẻ kinh nghiệm và giới thiệu những mô hình thành công. Phần còn lại phụ thuộc vào cách chúng ta thực hiện. Nếu văn hóa tạo thêm sinh kế, giúp các đô thị đáng sống hơn, mở rộng không gian sáng tạo cho người trẻ, đưa nhiều sản phẩm Việt Nam ra thế giới và giữ được sự gắn kết xã hội trước những biến đổi của thời đại số, sức mạnh mềm sẽ không còn là một khái niệm xa xôi. Khi đó, sức mạnh mềm sẽ hiện diện trong cách người dân sống, trong những sản phẩm Việt Nam làm ra và trong cách thế giới nhìn về đất nước Việt Nam. Bởi vậy, điều đáng chờ đợi sau dấu mốc ngày 4/9/2026 không chỉ là việc Việt Nam đã đưa một sáng kiến tới Liên hợp quốc mà quan trọng hơn, từ sáng kiến ấy, Việt Nam có thêm một cơ hội để nhìn lại chính mình, gìn giữ những giá trị đáng quý và tạo ra những giá trị mới cho chặng đường phát triển phía trước. Năm 2026, Việt Nam đã đưa một ý tưởng về văn hóa ra thế giới. Từ năm 2027, một hành trình khó hơn bắt đầu: Biến chính Việt Nam thành một minh chứng thuyết phục cho ý tưởng ấy. n Nghị quyết 80 đặt ra yêu cầu phát huy văn hóa để thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia. Tuy nhiên, sức mạnh mềm không đơn giản là tổ chức thêm những tuần văn hóa, chương trình biểu diễn hoặc chiến dịch quảng bá ở nước ngoài. Tượng Moai trên đảo Phục Sinh tại Chile. NGAYNAY.VN 5 TIÊU ĐIỂM Số tháng 9/2026

Mở rộng quyền học tập suốt đời Khi trở thành thành viên UNESCO vào tháng 7/1976, Việt Nam vừa bước ra khỏi chiến tranh và đứng trước yêu cầu cấp bách về khôi phục trường học, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực. Trong bối cảnh ấy, hợp tác giáo dục cùng UNESCO trước hết góp phần đáp ứng nhu cầu tái thiết, đồng thời về lâu dài mở rộng quan niệm về người học, thời gian học và không gian học tập. Giáo dục Việt Nam từ chỗ chủ yếu gắn với nhà trường, cấp học và độ tuổi đã được nhìn nhận như một quá trình tiếp diễn suốt đời, bằng nhiều hình thức và trong nhiều không gian khác nhau. Những tư tưởng của UNESCO về “Giáo dục cho mọi người”, “Giáo dục bao trùm” và “Học tập suốt đời” góp phần định hình cách tiếp cận rộng mở này. Việt Nam tiếp nhận những quan niệm đó trên nền tảng truyền thống hiếu học cùng các phong trào xóa mù chữ, phổ cập giáo dục và khuyến học. Trong thập niên 1990, Việt Nam phối hợp với UNESCO triển khai Chương trình Giáo dục cho mọi người. Từ năm 1998, mô hình trung tâm học tập cộng đồng được thí điểm, đưa kiến thức về sản xuất, chăm sóc sức khỏe, pháp luật, bảo vệ môi trường và kỹ năng nghề nghiệp đến gần hơn với người dân. Đặc biệt, trong cách tiếp cận của UNESCO, “Học tập suốt đời” là nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt, kết nối các phương thức, cấp học và những giai đoạn học tập của mỗi người trong nền giáo dục hiện đại. Cùng với tiến trình hợp tác, quan điểm ấy từng bước đi vào đường lối và chính sách quốc gia. Năm 2001, Đại hội IX của Đảng xác định nhiệm vụ “thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng nước ta thành một xã hội học tập”. Ba đề án cho các giai đoạn 2005–2010, 2012–2020 và 2021–2030 đã tạo nên một quá trình hiện thực hóa về chính sách liên tục. Luật Giáo dục năm 2019 tiếp tục xác định hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống mở, liên thông, gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Nhìn vào giai đoạn hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO hiện nay, GS.TS Phạm Tất Dong, cố vấn Hội Khuyến học Việt Nam, nhận định: “Xã hội học tập đang bước sang một chặng phát triển mới, gắn với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Công nghệ mở rộng khả năng học tập, trong khi những biến đổi nhanh chóng của đời sống đòi hỏi tri thức phải được cập nhật thường xuyên”. Cùng với đó, vào đầu năm 2026, Hà Nội trở thành thành phố thứ sáu của Việt Nam tham gia Mạng lưới Thành phố học tập toàn cầu của UNESCO. Dấu mốc này cho thấy học tập suốt đời không còn chỉ là mục tiêu của ngành giáo dục mà ngày càng trở thành một thành tố của quản trị đô thị và nâng cao chất lượng sống. Chất lượng giáo dục từ ai cũng có cơ hội Khi cánh cửa học tập được mở rộng, yêu cầu tiếp theo là bảo đảm mỗi người được tiếp cận một nền giáo dục phù hợp, an toàn và có khả năng chuẩn bị cho tương lai. Hợp tác Việt Nam - UNESCO vì thế cũng chuyển còn gặp nhiều rào cản trong cộng đồng. Cụ thể, giai đoạn 2023–2025, dự án We Are ABLE (Chúng tôi có thể) được UNESCO kết hợp triển khai tại Cao Bằng, Vĩnh Long và Khánh Hòa đã tiếp cận 8.313 học sinh thuộc 15 trường trung học cơ sở có đông học sinh dân tộc thiểu số, đồng thời nâng cao năng lực cho hơn 650 giáo viên. Giai đoạn tiếp theo, được khởi động vào tháng 3/2026, tiếp tục mở rộng giáo dục STEAM theo hướng đáp ứng giới, giúp trẻ em gái và học sinh dân tộc thiểu số phát triển sự tự tin, năng lực sáng tạo và khả năng dẫn dắt. “Giáo dục bao trùm” không chỉ mở rộng cơ hội tiếp dần từ hỗ trợ giải quyết những nhu cầu trước mắt sang chia sẻ tri thức, cung cấp công cụ và kết nối mạng lưới, qua đó góp phần nâng cao chất lượng của toàn hệ thống. Sự chuyển dịch ấy thể hiện rõ trong những chương trình dành cho các nhóm 50 NĂM VIỆT NAM GIA NHẬP UNESCO: Tri thức toàn cầu thúc đẩy năng lực giáo dục tại Việt Nam Trong cách tiếp cận của UNESCO, “Học tập suốt đời” là nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt, kết nối các phương thức, cấp học và những giai đoạn học tập của mỗi người trong nền giáo dục hiện đại. Cùng với tiến trình hợp tác giữa hai bên, quan điểm ấy từng bước đi vào đường lối và chính sách quốc gia. NGUYỆT LINH Từ “Giáo dục cho mọi người”, “Học tập suốt đời”, “Học tập cộng đồng”, “Thành phố học tập” đến những đóng góp trong quá trình xây dựng Luật Nhà giáo, hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO suốt 50 năm qua ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần bồi đắp năng lực phát triển con người và định hình tương lai giáo dục quốc gia. NGAYNAY.VN 6 Số tháng 9/2026 CHUYÊN ĐỀ

cận mà còn đòi hỏi xây dựng một môi trường học đường có khả năng nâng đỡ mỗi người học. Dự án Trường học hạnh phúc giai đoạn 2025–2028 đặt sức khỏe tinh thần, sự an toàn, bình đẳng và niềm vui trong mối quan hệ trực tiếp với chất lượng giáo dục. UNESCO phối hợp với các đối tác xây dựng, thí điểm bộ khung phù hợp với bối cảnh Việt Nam, bồi dưỡng giáo viên và hình thành các cộng đồng thực hành. Chia sẻ với Ngày Nay, ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam, nhấn mạnh: “Khi trường học trở thành những không gian an toàn và truyền cảm hứng, mọi người học đều có cơ hội phát triển toàn diện”. Trước sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, các tài liệu chủ lực của UNESCO về công nghệ và AI trong giáo dục cũng đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt. Trong đó có các hướng dẫn chính sách, khung năng lực dành cho giáo viên và học sinh cùng hướng dẫn sử dụng AI tạo sinh. Những tài liệu này đặt quyền con người, sự công bằng, tinh thần trách nhiệm cũng như vai trò chủ thể của người dạy và người học vào trung tâm của quá trình chuyển đổi số. Qua những chương trình ấy, chất lượng giáo dục không chỉ được đo bằng kết quả học tập mà còn bằng khả năng trao cơ hội phát triển cho từng người, nhất là những nhóm vốn dễ bị bỏ lại phía sau. Đặt người thầy vào trung tâm cải cách Mọi cải cách giáo dục cuối cùng đều đi qua đội ngũ nhà giáo. Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15, đạo luật chuyên ngành đầu tiên về nhà giáo, được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Việc xác lập đầy đủ vị trí pháp lý, quyền, nghĩa vụ, chế độ đãi ngộ và con đường phát triển nghề nghiệp cho nhà giáo đánh dấu bước chuyển từ quản lý đội ngũ sang kiến tạo một nguồn lực có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng giáo dục. Quá trình xây dựng Luật là trường hợp tiêu biểu cho việc chuyển hóa các chuẩn mực của UNESCO thành chính sách phù hợp với Việt Nam. Theo ông Jonathan Wallace Baker, từ năm 2008, Việt Nam đã chủ động nghiên cứu, nội luật hóa Khuyến nghị ILO/UNESCO năm 1966 về vị thế nhà giáo và Khuyến nghị UNESCO năm 1997 về nhân sự giảng dạy đại học. UNESCO đồng hành trong quá trình xây dựng Luật thông qua hỗ trợ kỹ thuật, khuyến nghị chính sách, thúc đẩy đối thoại và chia sẻ kinh nghiệm quốc tế. Những định hướng đó được cụ thể hóa bằng nhiều chính sách quan trọng. Luật quy định lương nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp, đồng thời tăng cường bảo vệ danh dự, chuẩn hóa đạo đức nghề nghiệp và mở rộng chính sách phát triển chuyên môn. Đánh giá về chính sách tiền lương, ông Jonathan Wallace Baker cho rằng Việt Nam đã truyền đi một thông điệp rõ ràng: “Giáo dục đóng vai trò then chốt, và trong đó những người nuôi dưỡng trí tuệ thế hệ trẻ là quan trọng nhất”. Tuy nhiên, giá trị của Luật chỉ được khẳng định khi các quy định tạo ra những thay đổi thực tế trong đời sống giáo dục. Khi Luật bước vào giai đoạn triển khai từ đầu năm 2026, yêu cầu được đặt ra không chỉ là hoàn thiện dữ liệu về đội ngũ, chuẩn nghề nghiệp và cơ chế đào tạo thường xuyên, mà còn phải nâng cao năng lực số, thúc đẩy bình đẳng giới, quan tâm đến sức khỏe tinh thần và củng cố chính sách dành cho vùng khó khăn. UNESCO tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong tiến trình này, góp phần bảo đảm các quy định được triển khai phù hợp với điều kiện trong nước và tiệm cận những chuẩn mực tiến bộ. n Bà Ngô Phương Ly (thứ hai từ phải sang), Tổng Giám đốc UNESCO Audrey Azoulay (thứ hai từ trái sang) tại triển lãm ảnh “Chúng tôi có thể”. Xã hội học tập đang bước sang một chặng phát triển mới, gắn với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Công nghệ mở rộng khả năng học tập, trong khi những biến đổi nhanh chóng của đời sống đòi hỏi tri thức phải được cập nhật thường xuyên”. GS.TS Phạm Tất Dong, cố vấn Hội Khuyến học Việt Nam NGAYNAY.VN 7 CHUYÊN ĐỀ Số tháng 9/2026

Sức bật mới từ những Từ Nghị quyết 29NQ/TW (năm 2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đến Nghị quyết số 71-NQ/ TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, giáo dục Việt Nam đã đánh dấu một cột mốc lịch sử, thể hiện sự quyết tâm chính trị ở tầm cao nhất, đặt giáo dục vào vị trí “quốc sách hàng đầu”, như chìa khóa quyết định tương lai dân tộc. Hành trình mới sau 1 năm thực hiện Nghị quyết 71 Nếu năm 2025 là một năm đột phá về xây dựng thể chế giáo dục với 99 văn bản luật, nghị quyết, nghị định, thông tư được ban hành, trình ban hành thì năm 2026 - năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng – được kì vọng là năm giáo dục Việt Nam chuyển mạnh mẽ từ “hoàn thiện thể chế” sang “đổi mới thực chất”. Lần đầu tiên trong một năm, 4 dự án Luật thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo được Quốc hội thông qua gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi). Đặc biệt hơn là Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71) do Bộ Chính trị ban hành ngày 22/8/2025. Rất nhiều đột phá về giáo dục được đưa ra: Cam kết chi tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo; tăng phụ cấp ưu đãi nghề tối thiểu 70% cho giáo viên mầm non, phổ thông và đạt 100% tại các vùng có điều kiện khó khăn, đặc biệt khó khăn. Chính sách an sinh học tập cũng được đề cao với mục tiêu miễn phí sách giáo khoa đến năm 2030, hoàn thành phổ cập mầm non cho trẻ em từ 3-5 tuổi cùng bậc trung học cơ sở… Theo GS.TS Dương Quý Sỹ, Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, những định hướng lớn của Nghị quyết 71 đã từng bước được thể chế hóa thành chính sách và bắt đầu tác động trực tiếp đến người học, nhà giáo và cơ sở giáo dục. Nghị quyết 71 định vị lại hệ thống giáo dục Việt Nam với tầm nhìn dài hạn, giải pháp toàn diện và định học 2026-2027 là minh chứng sinh động cho việc một quyết sách giáo dục có thể được triển khai với tốc độ chưa từng có, khi cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc với quyết tâm cao. Ngày 5/9, trong tiếng trống trường giục giã, hơn 1.000 học sinh Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Hạ Lang, phần lớn là người Tày và Nùng đã cùng nhau thắp lên khát vọng học tập trong kỉ nguyên mới. Triệu Thị Mai Phương, học sinh Trường Phổ thông nội trú Tiểu lượng rõ ràng, thể hiện tư duy chiến lược và khát vọng phát triển giáo dục lên một tầm cao mới. Từ lán tre đến những ngôi trường liên cấp hiện đại Một chủ trương lớn chỉ thực sự có sức sống khi được hiện thực hóa bằng những việc làm cụ thể. Câu chuyện về hệ thống trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền, được dựng lên chỉ trong chưa đầy một năm, sẵn sàng đón học sinh vào năm Nghị quyết 71 được coi là một trong những văn bản khơi thông dòng chảy nguồn lực, tạo ra sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội đối với giáo dục, nhất là trong việc đầu tư hạ tầng thực hành. HẠNH NGUYÊN Sau một năm triển khai thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, nhiều chủ trương đột phá về giáo dục và đào tạo đã được thể chế hóa và từng bước đi vào cuộc sống. NGAYNAY.VN 8 Số tháng 9/2026 CHUYÊN ĐỀ

chủ trương đột phá học và THCS Hạ Lang hạnh phúc nói, bố mẹ phải dầm mưa dãi nắng kiếm tiền nuôi hai chị em ăn học, hai chị em luôn cố gắng học tập thật tốt. Với Phương, học tập là cách để em có thể đi xa hơn hoàn cảnh của gia đình. Ngôi trường mới là cơ hội để em thực hiện ước mơ của mình. Cùng với Mai Phương, hơn 113.000 học sinh khu vực biên giới Lào Cai, Điện Biên, Sơn La… đã được bước chân vào những ngôi trường đẹp như miền xuôi. Đưa trường học đến gần hơn với học sinh vùng biên là một chủ trương lớn của Chính phủ, nhằm tạo điều kiện học tập, ăn ở và sinh hoạt tốt hơn cho trẻ em tại các địa bàn còn nhiều khó khăn. Trong giai đoạn 1, có 108 trường phổ thông nội trú liên cấp được triển khai tại 19 tỉnh, thành phố. Trước đó, năm học 20252026, 248 xã biên giới đất liền trên cả nước có 956 trường phổ thông nhưng trong đó chỉ có 22 trường phổ thông nội trú cấp trung học phổ thông (chiếm tỉ lệ 2,3%), 160 trường phổ thông bán trú cấp tiểu học và trung học cơ sở (chiếm 16,7%). Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn khẳng định, tạo công bằng và thu hẹp khoảng cách phát triển giáo dục giữa các vùng miền không thể chỉ do riêng ngành giáo dục thực hiện. Bộ GD-ĐT đã đề xuất Chính phủ trình Quốc hội Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó có nguồn lực hỗ trợ các địa phương xây dựng trường lớp, mở rộng cơ hội tiếp cận học tập. “Quan trọng nhất là các địa phương tiếp tục dành sự quan tâm thích đáng để đầu tư”, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh, trước hết là kiên cố hóa trường học, xây dựng đủ trường, đủ lớp, tạo điều kiện để học sinh vùng sâu, vùng xa tiếp cận trường lớp thuận tiện hơn và có điều kiện học tập, trang thiết bị tốt hơn. Cùng với cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định để những ngôi trường mới phát huy hiệu quả, nếu chính sách tiền lương, phụ cấp… đủ sức giữ chân giáo viên. Chuyển hóa chính sách thành kết quả thực tế Cùng với việc đưa vào hoạt động các trường phổ thông nội trú liên cấp, Bộ GD- ĐT đang nỗ lực đưa các chính sách đột phá mới đi vào đời sống. Năm 2026, Bộ GD-ĐT thực hiện sắp xếp lại hệ thống trường lớp, tinh gọn bộ máy giáo dục công lập. Công cuộc này đang trong giai đoạn triển khai theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đặt mục tiêu giảm ít nhất 30% đầu mối trên toàn quốc trước ngày 30/4/2027. Đến nay, các địa phương đã kết thúc giai đoạn thí điểm sáp nhập đầu mối vào ngày 30/8/2026 để kịp thời vận hành cho năm học mới 2026-2027. Song song với đó, các địa phương cũng thực hiện điều động giáo viên từ nơi thừa sang nơi thiếu, sắp xếp lại vị trí việc làm phù hợp… Cũng năm nay, Bộ GD-ĐT quyết định lựa chọn một bộ sách giáo khoa để sử dụng thống nhất trên toàn quốc từ năm học 2026-2027. Việc đổi mới phương pháp dạy học gắn với STEM, năng lực số, ngoại ngữ… được đồng loạt triển khai từ đồng bằng đến miền ngược, từ Nam chí Bắc. Việc thể chế hóa các chính sách tiền lương và nâng phụ cấp ưu đãi nghề lên mức tối thiểu 70% trở thành động lực to lớn giúp củng cố niềm tin, giảm áp lực và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao gắn bó với bục giảng. Lộ trình nâng trình độ chuẩn được đào tạo đang bước vào giai đoạn về đích, trực tiếp chuẩn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trên cả nước. Đi cùng với đó, cơ chế tăng cường tự chủ toàn diện và tối ưu hóa nguồn lực tài chính đang mở ra không gian quản trị hiện đại, tạo bước chuyển mạnh mẽ từ tư duy hành chính sang quản trị dựa trên kết quả thực chất... Ngành giáo dục Việt Nam thực sự đang đứng trước thời cơ phát triển vượt bậc khi vị thế “quốc sách hàng đầu” được cụ thể hóa bằng những quyết sách đột phá và mạnh mẽ. n Đến năm 2030, 100% trường đại học và ≥80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia; chỉ số giáo dục trong HDI đạt ≥0,8; bất bình đẳng trong giáo dục giảm xuống dưới 10%. Đến năm 2045, Việt Nam có hệ thống giáo dục hiện đại, công bằng, chất lượng, nằm trong nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới; ít nhất 5 trường đại học có tên trong top 100 toàn cầu ở một số lĩnh vực. Nghị quyết số 71 - NQ/TW NGAYNAY.VN 9 CHUYÊN ĐỀ Số tháng 9/2026

“Chăm lo giáo dục trước hết Mức lương “kịch trần” cho nhà giáo Các chính sách giáo dục tại Việt Nam đã có những thay đổi đột phá, mang tính lịch sử nhằm bảo đảm quyền lợi tối đa cho đội ngũ giáo viên. Cột mốc quan trọng nhất là việc Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực, mở ra những điều chỉnh vượt trội về thu nhập, chế độ làm việc và vị thế nghề nghiệp. Luật Nhà giáo đã được Quốc hội thông qua vào ngày 16/6/2025 tại Kỳ họp thứ 9, khóa XV có hiệu lực từ 1/1/2026 nhận được sự đồng thuận rất lớn của nhân dân, nhất là đội ngũ tri thức, nhà giáo cả nước. Đây là đạo luật chuyên ngành đầu tiên quy định toàn diện về nhà giáo, từ vị trí, chuẩn nghề nghiệp, tuyển dụng, sử dụng, tiền lương, đãi ngộ, đào tạo bồi dưỡng, tới tôn vinh, khen thưởng và xử lý vi phạm. Luật không chỉ nâng cao sự tôn vinh mà còn tạo ra những chính sách cụ thể, hỗ trợ giáo viên về quyền lợi, chế độ đãi ngộ và môi trường làm việc, qua đó khẳng định sự quan trọng, vị thế của nghề giáo trong sự phát triển của đất nước. Thứ trưởng thường trực Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Ngọc Thưởng cho biết, trong Luật Nhà giáo, lương nhà giáo ở mức cao nhất trong hệ thống thang bảng lương hành chính sự nghiệp. Lần đầu tiên, nhà giáo ngoài công lập được thừa nhận là một người hành nghề đặc thù, có chuẩn nghề nghiệp, quyền và nghĩa vụ tương đồng, không chỉ là người lao động theo hợp đồng như trước. Luật khẳng định vai trò then chốt của nhà giáo, đồng thời mở rộng quyền tham gia nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp. Luật quy định lương nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bảng lương hành chính sự nghiệp. Bổ sung các khoản hỗ trợ vùng khó khăn, thuê nhà, đào tạo, sức khỏe định kỳ, thu hút nhân lực chất lượng cao. Theo đó, hệ số lương đặc thù đối với nhà giáo được xếp ở mức từ 1,1 đến 1,6 tùy theo cấp học, trình độ đào tạo bảo đảm lương nhà giáo cao hơn viên chức cùng bảng lương áp dụng của các ngành, lĩnh vực khác; giảm cách biệt về tiền lương giữa nhà giáo trẻ và nhà giáo lâu năm ở cùng vị trí việc làm. Mức lương cơ sở cũng đã được điều chỉnh tăng lên 2,53 triệu đồng/tháng theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP. Phụ cấp ưu đãi đối với giáo viên mầm non và phổ thông công lập đạt tối thiểu 70% (tăng mạnh so với mức cũ). Riêng giáo viên công tác tại vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo được hưởng mức phụ cấp đến 100%. Giáo viên vẫn tiếp tục được giữ phụ cấp thâm Không chỉ là câu chuyện tăng lương Trong thư gửi ngành Giáo dục nhân dịp khai giảng năm học mới 2026-2027, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Tôi đặc biệt trân trọng những thầy giáo, cô giáo ngày ngày bám trường, bám lớp nơi miền núi, biên giới, hải đảo và những vùng còn nhiều thiếu thốn, vượt qua gian khó để giữ sáng ngọn lửa tri thức, không để học sinh nào mất đi quyền được đến trường. Trong mỗi bước trưởng thành của học trò đều có tâm huyết của người thầy, trong mỗi bước tiến của dân tộc đều có nền móng của giáo dục”. Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị ngành giáo dục đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương thức quản trị, trao quyền gắn với trách nhiệm giải trình, giảm áp lực hành chính để thầy cô dành tâm sức cho chuyên môn và học trò. Kiểm tra, đánh giá phải đặt người học ở vị trí trung tâm, khắc phục bệnh thành tích, tâm lý chạy theo điểm số và thi cử nặng nề. “Chăm lo giáo dục trước hết là chăm lo cho người thầy, để nhà giáo yên tâm với nghề, giữ gìn phẩm niên nghề cho đến khi có cải cách tổng thể. Để áp dụng bảng lương đặc thù ưu tiên cho từng vị trí, Quốc hội giao Chính phủ quy định chi tiết bằng một Nghị định riêng. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các bộ ngành đang hoàn thiện dự thảo phối hợp để trình Chính phủ ký ban hành. Vì vậy, bảng lương chuẩn hóa “cao nhất hệ thống” sẽ chính thức đổ về tài khoản của giáo viên ngay sau khi Nghị định hướng dẫn về tiền lương và phụ cấp mới được ký ban hành và có hiệu lực thực thi. Một điểm mới được nhiều giáo viên quan tâm, đó là trước kia, mức lương của giáo viên chia thành các hạng I, II, III, nhiều giáo viên cùng có trình độ đại học, cùng công tác chung một cấp học, công việc như nhau nhưng có người hưởng lương hạng I, II, thậm chí có người hưởng lương hạng III với số tiền chênh lệch khá lớn thì nay, các thứ hạng bị xóa sổ. Mọi giáo viên đều được nhìn nhận bình đẳng về giá trị nghề nghiệp, không bị phân định bởi những tiêu chí mang tính hành chính mà đôi khi không phản ánh chính xác năng lực thực tế. LÊ CƯỜNG Năm học 2026-2027 được xem là một năm học có nhiều thay đổi quan trọng về cơ chế quản lý nhà giáo, chế độ làm việc, tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng, đánh giá, chuẩn nghề nghiệp và tổ chức bộ máy trường học. Nhiều quy định mới đã chính thức có hiệu lực từ năm 2026, tác động mạnh mẽ đến cuộc sống của giáo viên. NGAYNAY.VN 10 Số tháng 9/2026 CHUYÊN ĐỀ

RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==