Tin Mới

Không chỉ là vấn đề thẩm mỹ - ảnh 1
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh béo phì trên toàn thế giới đã tăng gần gấp ba lần kể từ năm 1975.

_______________

Thống kê, trong năm 2016 có hơn 1,9 tỷ (39%) người lớn từ 18 tuổi trở lên bị thừa cân, trong đó hơn 650 triệu người (13%) bị béo phì trên toàn cầu. Số người thiệt mạng về các bệnh liên quan đến thừa cân và béo phì nhiều hơn nhiều lần so với các bệnh liên quan đến thiếu cân và suy dinh dưỡng. Cũng trong 2016, có 41 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân/béo phì; hơn 340 triệu trẻ em và thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi bị thừa cân/béo phì

Không chỉ là vấn đề thẩm mỹ - ảnh 2

Chỉ số khối cơ thể - thường được biết đến với chữ viết tắt BMI theo tên tiếng Anh Body Mass Index được dùng để đánh giá mức độ gầy hay béo của một người. Chỉ số này do nhà bác học người Bỉ Adolphe Quetelet đưa ra vào năm 1832. Chỉ số khối cơ thể của một người tính bằng cân nặng của người đó (kg) chia cho bình phương chiều cao (đo theo mét hoặc cm). Công thức tính như sau: BMI = Cân nặng (kg) /[Chiều cao (m) x Chiều cao (m)]

Đối với người lớn:

Theo WHO, người lớn có BMI trong phạm vi từ 18,50 đến 24,99 là người bình thường. Nếu chỉ số khối cơ thể BMI của bạn nhỏ hơn 18,5, nghĩa là bạn gầy, dưới 16 là quá gầy hay suy dinh dưỡng. BMI từ 25 đến 29,99 là người béo và trên 30 là béo phì.

BMI cung cấp thước đo mức độ béo phì đối với cả hai giới và cho mọi lứa tuổi của người lớn. Tuy nhiên nên coi BMI là một hướng dẫn sơ bộ vì nó có thể không tương ứng với cùng một mức độ béo ở những người khác nhau.

Đối với trẻ em:

Tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em được tính theo cách tương tự như đối với người lớn, nhưng sau đó so sánh với các giá trị tiêu biểu cho trẻ cùng giới, cùng độ tuổi. Thay vì so sánh với ngưỡng cố định cho trẻ, chỉ số BMI được so sánh với tỷ lệ phần trăm đối với trẻ em cùng giới tính và tuổi tác.

Thiếu cân: nếu chỉ số BMI nằm trong vùng giá trị nhỏ hơn bách phân vị thứ 5 (percentile < 5th)

Sức khỏe dinh dưỡng tốt: nếu chỉ số BMI nằm trong khoảng bách phân vị thứ 5 đến 85

Thừa cân: nếu chỉ số BMI nằm trong khoảng bách phân vị 85 đến 95

Béo phì: nếu chỉ số BMI nằm trong vùng lớn hơn bách phân vị 95

Không chỉ là vấn đề thẩm mỹ - ảnh 3
Không chỉ là vấn đề thẩm mỹ - ảnh 4

Trong năm 2016, hơn 1,9 tỷ người trưởng thành từ 18 tuổi (39% nam giới và 40% phụ nữ) trở lên bị thừa cân, trong đó, hơn 650 triệu người bị béo phì.

Khoảng 13% dân số trưởng thành trên thế giới (11% nam và 15% nữ) bị béo phì vào năm 2016.

Tỷ lệ béo phì trên toàn thế giới tăng gần gấp ba lần khi so sánh giữa năm 1975 và năm 2016.

Năm 2016, ước tính có 41 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì. Trước đây bệnh thừa cân béo phì được coi là một vấn đề quốc gia có thu nhập cao nhưng ngày nay tình trạng này đang gia tăng ở các nước thu nhập thấp và trung bình, đặc biệt là ở các khu đô thị.

Ở châu Phi, số trẻ em dưới 5 tuổi thừa cân đã tăng gần 50% kể từ năm 2000. Gần một nửa số trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì trong sống ở châu Á.

Hơn 340 triệu trẻ em và thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì vào năm 2016.

Thừa cân và béo phì có liên quan đến nhiều ca tử vong trên toàn thế giới hơn là thiếu cân. Trên toàn cầu tỉ lệ thừa cân béo phì cao hơn nhiều so với thiếu cân và suy dinh dưỡng - điều này xảy ra ở mọi khu vực ngoại trừ các vùng của châu Phi cận Sahara và châu Á.

Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi 5-19 đã tăng đáng kể từ 4% năm 1975 lên hơn 18% trong năm 2016. Sự gia tăng xảy ra tương tự ở cả nam và nữ: 18% nữ và 19 tuổi % bé trai bị thừa cân. Trong khi chỉ dưới 1% trẻ em và thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi bị béo phì vào năm 1975 thì đến năm 2016  hơn 124 triệu trẻ em và thanh thiếu niên (6% trẻ em gái và 8% trẻ em trai) bị béo phì. Thừa cân và béo phì có liên quan đến nhiều ca tử vong trên toàn thế giới hơn là thiếu cân. Trên toàn cầu tỉ lệ thừa cân béo phì cao hơn nhiều so với thiếu cân và suy dinh dưỡng - điều này xảy ra ở mọi khu vực ngoại trừ các vùng của châu Phi cận Sahara và châu Á.

Không chỉ là vấn đề thẩm mỹ - ảnh 5
Không chỉ là vấn đề thẩm mỹ - ảnh 6

Nguyên nhân phổ biến gây ra tình trạng béo phì và thừa cân là mất cân bằng năng lượng giữa lượng calo đưa vào và lượng calo tiêu hao.

Trên toàn cầu đang gia tăng lượng thực phẩm giàu năng lượng có hàm lượng chất béo cao đồng thời các hoạt động thể chất suy giảm do tính chất ngày càng ít vận động của nhiều hình thức công việc, thay đổi phương thức vận chuyển và tăng đô thị hóa.

Những thay đổi trong chế độ ăn uống và hoạt động thể chất thường là kết quả của những thay đổi về môi trường và xã hội gắn với phát triển nhưng thiếu các chính sách hỗ trợ trong các lĩnh vực như y tế, nông nghiệp, giao thông, quy hoạch đô thị, môi trường, chế biến thực phẩm, phân phối, tiếp thị và giáo dục.

Không chỉ là vấn đề thẩm mỹ - ảnh 7
Không chỉ là vấn đề thẩm mỹ - ảnh 8

Chỉ số BMI tăng là yếu tố và nguy cơ chính gây ra các bệnh không lây nhiễm như:

- Bệnh tim mạch (chủ yếu là bệnh tim và đột quỵ), là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong năm 2012;

- Bệnh tiểu đường

- Rối loạn cơ xương (đặc biệt là viêm xương khớp - một bệnh thoái hóa cao của các khớp)

- Một số bệnh ung thư (bao gồm nội mạc tử cung, vú, buồng trứng, tuyến tiền liệt, gan, túi mật, thận và đại tràng).

Bệnh béo phì ở trẻ em có liên quan đến nguy cơ béo phì, tử vong sớm và tàn tật ở tuổi trưởng thành cao hơn.  Ngoài những rủi ro tăng lên trong tương lai, trẻ béo phì gặp khó khăn khi thở, tăng nguy cơ gãy xương, tăng huyết áp, đánh dấu sớm bệnh tim mạch, đề kháng insulin và tác dụng tâm lý.

Nhiều nước có thu nhập thấp và trung bình đang phải đối mặt với “gánh nặng gấp đôi” của bệnh tật. Trong khi các nước này tiếp tục đối phó với các vấn đề về bệnh truyền nhiễm và suy dinh dưỡng, họ cũng đang trải qua một sự bùng phát nhanh chóng trước nguy cơ bệnh không lây nhiễm như béo phì và thừa cân, đặc biệt là ở các khu vực đô thị.

Trẻ em ở các nước thu nhập thấp và trung bình dễ bị ảnh hưởng dinh dưỡng trước khi sinh, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Đồng thời, những trẻ này được tiếp xúc với các loại thực phẩm giàu chất béo, đường cao, muối cao, năng lượng dày đặc và vi chất dinh dưỡng có chi phí thấp hơn nhưng cũng có chất lượng dinh dưỡng thấp hơn. Những mẫu thức ăn này, kết hợp với mức độ hoạt động thể chất thấp dẫn đến tăng béo phì ở trẻ em trong khi các vấn đề thiếu dinh dưỡng vẫn chưa được giải quyết.

Trẻ em ở các nước thu nhập thấp và trung bình dễ bị ảnh hưởng dinh dưỡng trước khi sinh, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Đồng thời, những trẻ này được tiếp xúc với các loại thực phẩm giàu chất béo, đường cao, muối cao, năng lượng dày đặc và vi chất dinh dưỡng có chi phí thấp hơn nhưng cũng có chất lượng dinh dưỡng thấp hơn. Những mẫu thức ăn này, kết hợp với mức độ hoạt động thể chất thấp dẫn đến tăng béo phì ở trẻ em trong khi các vấn đề thiếu dinh dưỡng vẫn chưa được giải quyết.

Thừa cân và béo phì, cũng như các bệnh khác phần lớn có thể ngăn ngừa được từ nhịp sinh hoạt của mỗi cá nhân, bằng cách lựa chọn các loại thực phẩm lành mạnh và hoạt động thể chất thường xuyên hơn. Ví dụ, mọi người có thể:

- Hạn chế tiêu thụ năng lượng từ tổng chất béo và đường.

- Tăng tiêu thụ trái cây và rau quả, cũng như các loại đậu, ngũ cốc và các loại hạt.

- Tham gia vào hoạt động thể chất thường xuyên (60 phút mỗi ngày cho trẻ em và 150 phút/ tuần cho người lớn).

Trong xã hội, điều quan trọng trong việc giảm béo phì là các cơ sở y tế hỗ trợ các cá nhân tuân thủ các khuyến nghị trên, thông qua việc thực hiện bền vững các chính sách dựa trên bằng chứng và dựa vào dân số để thực hiện các hoạt động thể chất và chế độ ăn uống lành mạnh, giá cả phải chăng và dễ tiếp cận cho mọi người, đặc biệt đối với người nghèo. Chính sách như vậy là thuế đánh trên đồ uống có đường là một ví dụ.

Ngành công nghiệp thực phẩm có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chế độ ăn uống lành mạnh bằng cách:

- Giảm hàm lượng chất béo, đường và muối của thực phẩm chế biến.

- Đảm bảo rằng các lựa chọn lành mạnh và bổ dưỡng có sẵn và giá cả phải chăng cho tất cả người tiêu dùng.

- Hạn chế tiếp thị các loại thực phẩm giàu đường, muối và chất béo, đặc biệt là các loại thực phẩm dành cho trẻ em và thanh thiếu niên.

- Đảm bảo sự sẵn có của các lựa chọn thực phẩm lành mạnh và hỗ trợ thực hành hoạt động thể chất thường xuyên tại nơi làm việc.

Không chỉ là vấn đề thẩm mỹ - ảnh 9
Không chỉ là vấn đề thẩm mỹ - ảnh 10

Được Hội đồng Y tế Thế giới thông qua vào năm 2004, “Chiến lược toàn cầu về chế độ ăn uống, hoạt động thể chất và sức khỏe “ của WHO mô tả các hành động cần thiết để hỗ trợ chế độ ăn uống lành mạnh và hoạt động thể chất thường xuyên. Chiến lược kêu gọi tất cả các bên liên quan thực hiện hành động ở cấp độ toàn cầu, khu vực và địa phương để cải thiện chế độ ăn và mô hình hoạt động thể chất ở cấp dân số.

Tuyên bố chính trị của Hội nghị cấp cao của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về Phòng chống và Kiểm soát các bệnh không lây nhiễm tháng 9 năm 2011, công nhận tầm quan trọng đặc biệt của việc giảm chế độ ăn uống không lành mạnh và không hoạt động thể chất. Tuyên bố chính trị cam kết thúc đẩy việc thực hiện “ Chiến lược toàn cầu của WHO về chế độ ăn uống, hoạt động thể chất và sức khỏe “, thông qua việc giới thiệu các chính sách và hành động nhằm thúc đẩy chế độ ăn uống lành mạnh và tăng cường hoạt động thể chất trong toàn dân khi thích hợp.

WHO cũng đã phát triển “Kế hoạch hành động toàn cầu về phòng ngừa và kiểm soát bệnh không lây nhiễm 2013-2020” nhằm đạt được các cam kết của Tuyên bố chính trị của LHQ về các bệnh không lây nhiễm (NCD) đã được Tổng Thư ký phê duyệt vào tháng 9 năm 2011 “Kế hoạch Hành động Toàn cầu” sẽ đóng góp vào 9 mục tiêu NCD toàn cầu để đạt được vào năm 2025, bao gồm giảm 25% tỷ lệ tử vong sớm do NCD vào năm 2025 và ngừng tăng béo phì toàn cầu để phù hợp với tỷ lệ năm 2010.

Hội Y tế Thế giới hoan nghênh báo cáo của Ủy ban về Béo phì ở trẻ em cuối năm (2016) và 6 khuyến nghị để giải quyết môi trường béo phì và các giai đoạn quan trọng trong cuộc sống để giải quyết béo phì ở trẻ em. Kế hoạch thực hiện để hướng dẫn các nước thực hiện hành động thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban đã được Hội đồng Y tế Thế giới hoan nghênh vào năm 2017.

Không chỉ là vấn đề thẩm mỹ - ảnh 11

Ý kiến bạn đọc