Ngày Nay số 254

9 NGAYNAY.VN CHUYÊNĐỀ: VACCINE-“VŨKHÍ”CHỐNGBỆNHTẬT Số254 - ThứNăm, ngày 24.12.2020 Mỹ cuối cùng đã tuyên bố loại trừ bệnh bại liệt khỏi châuMỹ vào năm1994. Sốt thươnghàn Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu một loại vaccine phòng bệnh thương hàn vào những năm 1890 và công lao cho khám phá này được chia đều cho các bác sĩ Richard Pfeiffer vàWilhelmKolleởĐức và AlmrothWright ở Anh. Ông Wright đã thử nghiệmvaccine củamình vào năm 1896: đầu tiên là trên hai sĩ quan y tế Ấn Độ, sau đó là trên chính mình và đồng nghiệp và cuối cùng là trên 15 binh sĩ Anh. Sau khi vaccine của Wright được chứng minh làcóhiệuquả, lầnđầu tiên loại thuốc này được đưa vào sử dụng cho Quân đội Anh vào năm 1899. Gần 15.000 binh sĩ đã được tiêm chủng, giúp hạ thấp thành công tỷ lệ sốt thương hàn trong quân đội. Quân đội Mỹ sau đó đã thực hiện tiêm chủng bắt buộcvàonăm1911vàvaccine thương hàn được cung cấp ra thị trường Mỹ vào năm 1914. Ngày nay, các chiến dịch tiêm chủng sốt thương hàn vẫn đang được tiến hành ở một số nước Nam Á và châu Phi, những nơi có tỷ lệ mắc bệnh cao. vaccine của nhân loại Sốt vàngda Năm 1931, Max Theiler - nhà virus học Harvard đã chứng minh rằng những con chuột được tiêmhuyết thanh từ những con khỉ hoặc người đã bị nhiễm bệnh sốt vàng da đều có khả năng miễn dịch. Ông Theiler tiếp tục tạo ra loại vaccine sốt vàng da an toàn và hiệu quả đầu tiên vào năm 1936, được ông đặt tên là 17D. Theiler công bố kết quả thử nghiệm vaccine sốt vàng da ở người vào năm 1937. Loại vaccine này đã được phê duyệt và sản xuất hàng loạt vào năm đó và nhanh chóng Enders cuối cùng đã được cấp phép phát hành một loại vaccine an toàn và hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh sởi vào năm1963. Bác sĩ Maurice Hilleman của hãng dược phẩm Merck đã phát triển một loại vaccine giảm độc lực hơn vào năm 1968, sau đó ông kết hợp với vaccine cho bệnh quai bị (được cấp phép năm 1967) và bệnh rubella (1969) để tạo ra vaccineMMR vào năm 1971. Vaccine kết hợp tạo ra khả năngmiễn dịch đối với cả ba loại virus mà không có tác dụng phụ nào. BệnhviêmganB Bốn năm sau khi phát hiện ra virus, bác sĩ kiêm nhà di truyền học người Mỹ Baruch Blumberg đã phát triển vaccine viêm gan B đầu tiên vào năm 1969 bằng cách sử dụng một kháng nguyên mà ông tìm thấy ở Australia. Sau đó Blumberg đã giành được giải Nobel cho nghiên cứu củamình. Năm 1981, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đã phê duyệt một loại vaccine phức tạp hơn lấy từ máu của những người dương tính với viêmgan B, nhưng nó đãbị ngừng sản xuất vàonăm 1990 do lo ngại về đại dịch AIDS. Các nhà nghiên cứu đã phát triển một loại vaccine được làmtừADNbiếnđổi gen vào năm 1986. Loại vaccine enày vẫn được sử dụng cho đến ngày nay và không chứa các sản phẩm máu và không thể khiến người bệnh bị viêm gan B. Thủyđậu Năm 1974, nhà virus học người Nhật Bản Michiaki Takahashi đã phân lập được chủng bệnh thủy đậu “Oka”, hay còn gọi là bệnh thủy đậu, từ một cậu bé 3. Ông đã phát triển một loại vaccine thủy đậu sống giảm độc lực cùng năm đó và thử nghiệm trên 23 trẻ em trong bệnh viện. Tất cả những đứa trẻ được tiêm vaccine đều phát triển kháng thể và không bị ốm mặc dù có ổ dịch trong nơi chúng sinh sống. Các thử nghiệm lâm sàng tiếp tục ở Nhật Bản cho đến năm 1986, khi vaccine được chấp thuận và tung ra thị trường. n trở thành tiêu chuẩn chung. Theiler sau đó đã giành được giải Nobel cho nghiên cứu vaccine củamình. Các chiếndịch tiêmchủng vaccine sốt vàng da hàng loạt đã gần như xóa sổ căn bệnh này ở một số quốc gia vào năm 1961, nhưng những quốc gia khác vẫn tiếp tục bùng phát dịch lớn. Kể từ những năm 1990, đã có một số vụ dịch sốt vàng da trên khắp châu Phi. Bệnh cúm Các nhà khoa học người Anh Wilson Smith, Christopher Andrewes, và Patrick Laidlaw đã phân lập được virus cúmvào năm1933 và bắt đầu nghiên cứu quá trình sản xuất kháng thể ở chồn sương. Jonas Salk và Thomas Francis đã phát triển vaccine đầu tiên chống lại bệnh cúm A vào năm1938. Hai nămsau, Francis phát hiện ra bệnh cúm B, và bộ đôi này đã tạo ra một loại vaccine cúm hai thành phần vào năm1942. Vaccine kết hợp lần đầu tiên được sản xuất để sử dụng trong quân đội vào năm 1944, và sau đó được cấp phép cho dân thường vào năm 1945 sau khi thử nghiệm trên những tân binh và sinh viên đại học. Nhưng trong đợt bùng phát dịch cúm mùa năm 1947, các nhà nghiên cứu nhận ra rằng các chủng cúm mới xuất hiệnmỗi nămvà cần có các loại vaccine khác biệt. WHO đã khai trương Trung tâm Cúm đầu tiên ở London vào năm 1948, và các trung tâm trên khắp thế giới ngày nay vẫn tiếp tục nghiên cứu các loại vaccinemới. Bệnh sởi, quai bị và rubella Bác sĩ người Mỹ Thomas Peebles lần đầu tiên phân lập được virus sởi vào tháng 2 năm 1954, trong một đợt bùng phát tại tại thành phố Boston. Nhóm của ông Peebles đã thử nghiệm phiên bản vaccine đầu tiên trên 11 trẻ em bị chậm phát triển vào năm 1958, và họ nhận thấy virus trong vaccine đủ mạnh để gây ra một số triệu chứng bất lợi cho bọn trẻ. Sau nhiều đợt cải cách và thử nghiệm ở Boston, John Ảnhminhhọa. Bộ trưởngBộY tế,Tiến sĩ DianeGashumba, tiêmvaccine sởi vàRubella. Ảnh:WHO.

RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==