việc tiền nhân làm bia đã chọn đá, vẽ hoa văn, viết triện ngạch, khắc chữ như thế nào. Tất cả tôi làm được đều bằng con đường tự mày mò, tự học. Khi thể hiện từng tác phẩm, tôi cố gắng đạt tới gần nhất với những gì tiền nhân để lại, hoặc chí ít qua một phương diện nào đó dựng lại phong khí cổ xưa. Có thể hiểu đó là tinh thần trọng thị, theo sát dấu tích tiền nhân, vậy còn sự sáng tạo và cá tính của một nhà thư họa đương đại? Trong điêu khắc văn bia có hai dạng cơ bản, một là khắc chữ của người, hai là khắc chữ của mình. Dù lựa chọn thế nào thì vấn đề vẫn là đưa được tinh thần của người viết vào bia qua lối chữ được viết, để khi in rập thác bản, những nét chữ ấy, tinh thần ấy vẫn ẩn hiện trên mặt giấy mà không bị mất đi, đấy mới là cái khó. Khi làmbia, ứng với từng thời kỳ, tôi bắt buộc phải tìmhiểu để làm sao vừa học hỏi nhưng cũng có sự thiết kế và sáng Phóng viên Ngày Nay đã có cuộc trò chuyện cùng thư họa gia Xuân Như Vũ Thanh Tùng, người dành nhiều năm nghiên cứu thư pháp và điêu khắc văn tự, anh cũng là người khá hiếm hoi có thể tái dựngnhữngchữkhắc trênbia đámang phong khí cổ xưa. Kho tàng tinh mỹ từ tiền nhân Thưa thư họa gia Xuân Như Vũ Thanh Tùng, chúng ta đang chứng kiến một sự mất kết nối của công chúng đối với hệ thốngbiađá và vănbiaHán Nôm. Anh muốn chia sẻ gì về loại hìnhdi sảnnày? Khắc bia là một phần trong việc lưu giữ và truyền tải văn tự, là phương tiện không chỉ tạo ra giá trị về nội dung mà còn mang theo cả tínhmỹ thuật. Cần nhìn nhận đây là khía cạnh chúng ta ảnh hưởng từ Trung Quốc theo suốt chiều dài lịch sử nền học vấn khoa cử. Trong đó, văn tự trên bia cung cấp những thác bản lưu giữ bút tích của tiền nhân qua từng thời kỳ, từng triều đại. Ngoài những văn bia thông thường, có còn những văn bia chứa đựng bút tích các nhà thư pháp nổi tiếng, quan trọng trong việc hậu thế lấy đó làm mẫu học theo Tại Việt Nam, có một thực tế là bút tích được khắc và lưu lại trên các văn bia của tiền nhân không nổi bật, không được đề cập nhiều cũng như chưa được coi trọng ở hiện tại. Lịch sử bi ký của chúng ta chủ yếu mang tính chất truyền tải, lưu trữ nội dung trên một vật thể xác định là bia đá hoặc ma nhai. Tuy nhiên có thể khẳng định sau hàng ngàn năm tiếp thu Nho học, cha ông ta đã để lại một kho tàng văn bia không chỉ giá trị về phương diện thẩm mỹ như hoa văn, các đồ án mà còn cả lối viết, cách viết chữ, cách thức trình bày, những điều phần nào giúp chúng ta nhìn thấy diện mạo thư pháp của ông cha. Lịch sử sâu xa anh mô tả gợi liên tưởng đếnmột hệ sinh thái từ những văn nhân nho sĩ cho đến các làng nghề, vùng nguyên liệu cung cấp đá tự nhiên. Vậy những cộng đồng, không gian kể trên liệu có còn tồn tại đến ngày nay hay đã mai một, mất mát? Khoa thi Hội cuối cùng vào năm 1919 đã chấm dứt lịch sử khoa cử và cũng làm biến mất tầng lớp sĩ phu nho học. Trước mốc cáo chung đó, việc sử dụng văn tự Hán Nôm cũng như nghề làm bia khắc chữ Hán - Nôm gần như là công việc thường xuyên từ triều đình cho tới các cộng đồng dân cư như làng, xã. Nhu cầu to lớn này trong suốt chiều dài lịch sử đã sinh rất nhiều “Chữ vi tính” rửa trôi văn hiến nghìn năm Người trong giới vẫn dùng từ “của hiếm” để nói về anh, xin hỏi trước sự mất dấu các kỹ thuật truyền thống, anh thu thập các tri thức về điêu khắc văn bia từ đâu? Bản thân tôi không tự nhận về mình điều đó dù công việc này đang được coi là ít ỏi. Tôi xuất phát là người học về thư pháp, khắc triện trênđánhiềunăm. Nhìn thấy thực tế là hình như không còn mấy ai có khả năng khắc văn bia như trước, tôi quyết tâm tìm hiểu rồi làm. Có một thời gian tôi đi khắp các di tích trong nước, nhìn từng nét chạm, nét khắc, kết hợp với kiến thức từ thư pháp và triện khắc, dần dà tôi hiểu và biết phải xử lý như thế nào. Để làm được tất cả những việc nói trên, tôi buộc phải đọc lại tất cả các sách liên quan từ Trung Quốc. Ở Việt Nam, di sản còn để lại không ít nhưng chúng ta hoàn toàn không có một thư tịch nào dạy hay nói về làng nghề, phường thợ, đội ngũ phục vụ cho việc chế tác văn bia. Với những biến động lớn lao về xã hội, tri thức, kỹ thuật tạo tác văn bia dần biến mất theo thời gian. Dù hiện tại vẫn còn các làng nghề làm đá với truyền thống hàng trăm năm như An Hoạch (Thanh Hóa), Ninh Vân (Ninh Bình) nhưng hầu như không còn tìm thấy bất cứ nghệ nhân nào biết làm và khắc chữ trên bia theo lối cổ nữa. Trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản - du lịch, văn bia cổ có đóng góp vô cùng lớn. Tuy nhiên, theo chiều dài lịch sử, những đứt gãy về chữ viết cùng nhiều biến thiên thời đại đã khiến đại đa số người Việt không còn tìm thấy nhiều gắn bó với di sản này. THƯHỌA GIA XUÂNNHƯ VŨ THANH TÙNG: Trùng tu qua quýt sẽ biến di sản LƯU THIÊN CHƯƠNG NGAYNAY.VN DI SẢN Sốđặcbiệt 40
RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==