Ngày Nay số 168 - 173

DISẢN 50 SỐĐẶCBIỆT NGAYNAY.VN M ột trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ViệtNam là thành kính, tôn thờ Tổ tiên thể hiện lòng hiếu thảo, biết ơn tới những người đã sinh thành, dưỡngdục chomình, là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Đó là ý thức của người Việt về Tổ tiên, về cội nguồnmanggiá trị nhân văn sâu sắc, được phát khởi từ mối thiện tâm trong mỗi con người, có sức lan tỏa rộng khắp trongmỗi gia đình, trong cộng đồng xã hội và đã trở thành một phong tục, tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt Nam. Nguồn gốc ngày giỗ tổ Hùng Vương Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một loại hình tín ngưỡng dân gian được lưu truyền lâu đời ởViệt Nam, chủ yếu được thực hiện ở các di tích thờ các nhân vật liên quan đến thời Hùng Vương tiêu biểu nhưThầnNông, Vua Hùng, Lạc Long Quân, Âu Cơ, SơnTinh… Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân - con trai của Kinh Dương Vương Lộc Tục lấy Âu Cơ - con gái Vua Đế Lai rồi sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành trămngười con trai. Sau đó, nămmươi người con theo mẹ lên núi, năm mươi người theo cha xuống biển lập nghiệp. Người con cả theo mẹ lên vùng đất Phong Châu (nay là Phú Thọ) lập ra nước Văn Lang và được tôn làm Vua Hùng. Văn Lang là nhà nước đầu tiên trong lịch sử của người Việt, được cai trị bởi 18 đời vua. Các Vua Hùng đã dạy dân trồng lúa nước và chọn núi Nghĩa Lĩnh, ngọn núi cao nhất vùng để thực hiện những nghi lễ theo tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp như thờ thần lúa, thần mặt trời để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi, nảy nở. Để ghi nhớ công lao to lớn của các Vua Hùng, nhân dân đã lập đền thờ tưởng niệm (khu di tích lịch sử đền Hùng) mà trung tâm là núi Nghĩa Lĩnh và lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm là ngày giỗ Tổ. Từ trung tâm thờ tự đầu tiên này, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương dần lan tỏa, có sức sống lâu bền từ đời này qua đời khác, từ đồng bằng lên miền núi, từ Bắc vào Nam, từ trong nước ra nước ngoài. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, người Việt Nam luôn tôn vinh các Vua Hùng là ông Tổ của mình và lấy đó làm điểm tựa tinh thần, đức tin vào sự linh thiêng của Tổ tiên để chiến thắng thiên tai, giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn bờ cõi. Truyền thuyết tại Đền Hùng đã ghi lại: Sau khi được Vua Hùng thứ 18 nhường ngôi, Thục Phán đã dựng Cột đá thề trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, thề nguyện sẽ trọn đời bảo vệ giang sơn, gấm vóc mà Vua Hùng trao lại và đời đời hương khói trông nom lăngmiếuTổ tiên. Các tài liệu sử sách sớm nhất ghi chép về Thời đại Hùng Vương là “Đại Việt sử lược” và “Đại Việt sử ký toàn thư” đã khẳng định và lý giải về nguồn gốc, nguồn cội chung của dân tộc Việt Nam - các Vua Hùng. Thời Hậu Lê năm Hồng Đức thứ nhất đã cho soạn “Ngọc phả Hùng Vương” đã chép “Từ đời Nhà Đinh, Nhà Lê, Nhà Lý, Nhà Trần rồi đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa (Cổ Tích)”, ở đây nhân dân toàn quốc đều đến lễ bái để tưởng nhớ công lao của đấngThánh Tổ xưa”. Năm 1823 Vua Minh Mạng đã cho rước bài vị thờ Hùng Vương vào thờ ở miếu Lịch đại Đế Vương tại Kinh thành Huế, còn tại Đền Hùng thì cấp sắc để phụng thờ. Ngày 18/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 22C NV/CC quy định về những ngày lễ lớn hàng năm, trong đó có ghi Giỗ Tổ Hùng Vương được nghỉ 1 ngày. Năm 1946 - năm đầu tiên của Chính phủ mới được thành lập, trong ngày Giỗ Tổ, cụ Huỳnh Thúc Kháng - quyền Chủ tịch nước về dự, dâng tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam và một thanh gươm nhằm kính cáo với Tổ tiên về đất nước bị xâm lăng và cầu mong Tổ tiên phù hộ cho quốc thái, dân an, thiên hạ thái bình thịnh trị, cùng nhau đoàn kết đánh tan giặc TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG “Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng 10 tháng 3”

RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==