Ngày Nay số 272
NGAYNAY.VN BẢOTỒNDI SẢN 4 Số272 - ThứNăm, ngày29/4/2021 Do lớpngười trẻ tuổi trongcácnhómdân thiểusố, vì những lý dokhácnhau, từchối nói tiếngmẹđẻ . N gày Nay đã có cuộc trao đổi với GS.TS Trần Trí Dõi, Trưởng bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa các dân tôc Việt Nam của trường Đại học KHXH&NV- Đại học Quốc gia Hà Nội, một trong nh ng chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu ngôn ng và văn hóa c c dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Ngôn ngữ tộc người Thưa Giáo sư, hiện Việt Nam có bao nhiêu ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã được công nhận? GS.TS Trần Trí Dõi: Theo con số chính thức của nhà nước thì Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 1 dân tộc đa số là người Kinh và 53 dân tộc thiểu số. Như vậy, nếu dùng c ch nói ngôn ng dân tộc thì chỉ có số lượng là 54 ngôn ng . Tuy nhiên, trong khi tiếng Mường chẳng hạn chỉ dùng thống nhất trong dân tộc Mường, thì ví dụ như ngôn ng được gọi là tiếng Chứt lại gồm tiếng nói của nhiều tộc người kh c nhau như người Arem, người Mã Liềng, người Rục, người S ch... Nh ng tộc người nói trên chỉ là nh ng tộc người trong một dân tộc thiểu số và họ nói thứ tiếng của họ. Cho nên, về mặt chính thức, Việt Nam là một quốc gia đa ngôn ng với số lượng 54ngônng . Nhưngchúng ta có nh ng dân tộc thiểu số nói nh ng ngôn ng tộc người kh c nhau, vì thế số lượng ngôn ng tộc người có thể nhiều hơn. Tại saochúngtacầngiữgìn sự đa dạng ngôn ngữ của các tộc người khi có ngôn ngữ đã là tử ngữ, không còn người sử dụng? Ví dụ như người Ơđu đã không còn nói tiếngmẹ đẻ của họ mà sử dụng ngôn ngữ của dân tộc khác. GS.TS Trần Trí Dõi: Trước hết, phải khẳng định rằng ngôn ng là một thành tố của văn hóa. Vì vậy, ngôn ng vừa là thành tố văn hóa vừa là phương tiện để lưu gi , để thể hiện văn hóa của một tộc người haymột dân tộc. Đối với một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, đa dạng ngôn ng là một tài nguyên văn hóa mà không thể và không nên đ nh mất. Ở đây, tôi nhấnmạnh vào ch không thể và không nên vì đây là một tài nguyên, tài sản mà không phải quốc gia nào trên thế giới cũng sở h u như chúng ta. Một trong nh ng ví dụ thành công của việc bảo tồn ngôn ng c c dân tộc thiểu số để ph t huy tính đa dạng, phục vụ cho ph t triển du lịch là c ch dùng nghệ thuật h t Then ở một số tỉnh miền núi phía Bắc. Theo đó, từ năm 2013, di sản Thực hành h t Then của người Tày, Nùng, Th i đã chính thức được UNESCO đưa vào Danh s ch Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Giáo sư nói ngôn ngữ mất đi do số lượng người nói một ngôn ngữ quá ít, vậy nguyên nhân của việc này trong bối cảnh các dân tộc thiểu số ởViệt Namlànhư thếnào? GS.TS Trần Trí Dõi: Lý do đầu tiên của việc suy giảm số lượng người sử dụng ngôn ng của một tộc người có thể do cơ học. Do sự suy giảmkhả năng sinh sản trong tộc người hoặc họ bị ảnh hưởng bởi c c t c động ngoại cảnh như trường hợp người Arem cư trú qu biệt lập dẫn đến hôn nhân cận huyết; như người Ma Coong bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Nhưng cũng còn một lý do kh c, mà hiện nay nó đang chiếm ưu thế mạnh mẽ và đ ng lo ngại nhất. Đó là do lớp người trẻ tuổi trong c c nhóm dân thiểu số, vì nh ng lý do kh c nhau, từ chối nói tiếng mẹ đẻ. Khi nhận thấy ngôn ng dân tộc khôngđảm bảo được cuộc sống c nhân, thì người ta buộc phải điều chỉnh sử dụng ngôn ng kh c và chủ động biến nó thành công cụ kiếmsống. Với địa bàn cư trú sống dọc theo nh ng con đường đầy lửa đạn như Đường 12, Đường 20…nên trong thời kỳViệt Nam kh ng chiến chống Mỹ, tộc người Ma Coong đã phải rời bỏ bản làng, di cư vào nh ng hang động của vùng rừng núi Phong Nha – Kẻ Bàng. Quay lại với vấn đề suy giảm ngôn ngữ tộc người ở Việt Nam, Giáo sư có thể cung cấp cho độc giả những số liệu và trường hợp cụ thể trong các nămvừaqua? GS.TS Trần Trí Dõi: Vấn đề suy giảm ngôn ng ở Việt Nam, nếu so s nh với một vùng lãnh thổ như nước Úc, mang một màu sắc tươi s ng hơn. Tính từ năm 1945 đến nay, theo ghi nhận của giới nghiên cứu ngôn ng , Việt Nammới chỉ ghi nhận mất đi duy nhất ngôn ng của tộc người Ơ Đu ở miền tây Nghệ An. Tức là trong 76 năm qua, ở Việt Nam mới mất đi một ngôn ng tộc người khi hiện tại người Ơ Đu trên nguyên tắc là không nói tiếng mẹ đẻ của họ n a. Vì ngôn ng dân tộc chỉ là một thành tố của văn hóa, trong khi hiện nay người Ơ Đu vẫn lưu gi một số tập tục kh c và trong đời sống hàng ngày họ sử dụng một ngôn ng của một cộng đồng kh c kh c cùng sinh sống trong địa bàn nhưng được sử dụng phổ biến hơn. Trong ngôn ng học, chúng tôi gọi đó làmột thứ tiếng vay mượn để đ p ứng nhu cầu giao tiếp của họ nhưng nó vẫn không phải là ngôn ng hay tiếngmẹ đẻ trước đây của tộc người. Theo kết quả khảo s t của c c nhà nghiên cứu, thì tiếng mẹ đẻ nguyên gốc của người Ơ Đu ở miền tây Nghệ An không còn n a. Ngoài ra, còn một số ngôn ng của nh ng tộc người kh c như tiếng Arem ở Quảng Bình, tiếng Na Mẻo ởTuyênQuang, tiếngHà Nhì ở Hàn Giang v.v thì nằm trong diện đang có nguy cơ cao bị mai một. Nuôi dưỡng cộng đồng đa ngôn ngữ Ngày 21/2 là ngày Quốc tế tiếng mẹ đẻ. Chủ đề năm nay, rất hay, chính là “nuôi dưỡng cộngđồngđangônngữđểhòa nhập vào giáo dục và xã hội”. Vậy điềunày đã được hiện thực hóa ở Việt Nam như thế nào thưaGiáo sư? NGUYỆT LINH Để người dân tộc thiểu số nói GS.TSTrầnTrí Dõi. Theo một thống kê do tờ Daily Sabah công bố, có 2.500 ngôn ngữ có thể bị “tuyệt chủng”, trong số này cứ 15 ngày lại có một ngôn ngữ biến mất trên thế giới. Không nằm ngoài tầm ảnh hưởng đó, các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng đã và đang có những hiện tượng bị tổn thương, mai một, có nguy cơ biến mất trong một vài thập kỷ tới.
Made with FlippingBook
RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==