Ngày Nay số 272
NGAYNAY.VN BẢOTỒNDI SẢN 5 Số272 - ThứNăm, ngày 29/4/2021 GS.TS Trần Trí Dõi: Phải khẳng định một điều, chính s ch của nhà nước Việt Nam là tôn trọng tiếng mẹ đẻ của c c dân tộc thiểu số. Vì vậy, trong Hiến ph p mới nhất của Việt Nam, Hiến ph p năm 2013 ghi rằng tiếng Việt là ngôn ng quốc gia, nhưng c c dân tộc thiểu số thì có quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình trong đời sống. Hiểu một c ch kh c thì ngoài ngôn ng quốc gia là tiếng Việt, c c dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ trong tất cả nh ng hoạt động kh c của đời sống xã hội để gìn gi vốn truyền thống văn hóa của mình. Những khó khăn để chính sách trên đi vào cuộc sống là gì thưaGiáo sư? GS.TS Trần Trí Dõi: Khó khăn này nằm trên hai đặc điểm chính của c c dân tộc thiểu số của Việt Nam. Đặc điểm đầu tiên là tại Việt Nam có không ít tộc người với số lượng người sử dụng ngôn ng riêng của mình là rất ít. Như người Ơ đu chỉ có khoảng hơn 400 người, c c tộc người kh c như người Rục, người Arem của dân tộc Chứt cũng chỉ có khoảng vài ba trăm người. Thậm chí, ngay cả với cả nhóm ngôn ng dân tộc thiểu số, thì có khoảng 14 trên 54 dân tộc có dân số dưới 10.000 người (lấy theo số liệuTổng điều tra dân số năm 2019). Theo UNESCO, một ngôn ng nên được sử dụng bởi tối thiểu 10.000 người để đảm bảo sự di truyền gi a c c thế hệ. Nhưng trên thực tế, cũng không có gì đảm bảo cho việc chuyển giao ngôn ng cho thế hệ tiếp theo nếu ngôn ng đó được sử dụng bởi ít hơn 100.000 người. Đặc điểm còn lại là do điều kiện sinh sống, nh ng dân tộc này lại phân t n trong một địa bàn rộng. Và sự phân t n này lại là sự đan xen với c c dân tộc kh c nên cơ hội sử dụng ngôn ng cho riêng mình của nh ng tộc người này là rất ít. Lấy một ví dụ cho vấn đề nêu trên, là trong một bản có 5 tộc người kh c nhaucùngsinhsống, thì ngôn ng phổ biến sẽ dựa vào việc tộc người nào chiếm đa số trong cộng đồng đó. Đây là một biến chuyển rất tự nhiên, không domột chính s ch nào có thể can thiệp. Giáo dục và những chính sách hỗ trợ Thưa Giáo sư, hiện tại Giáo dục cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam đang tiếp cận theo hướng song ngữ, vừa dạy tiếng Việt, vừa dạy tiếng mẹ đẻ hay hoàn toàn tiếp cận bằng tiếng Việt? GS.TS Trần Trí Dõi: Chủ trương của Nhà nước Việt Nam là tiếp cận song ng . Nhưng trong thực tế, mới đủ tiềm lực để thực hiện việc gi o dục tiếng Việt là ngôn ng bắt buộc. Tuy nhiên, với chủ trương cởi mở nên tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng địa phương, người ta có thể vừa dạy ngôn ng quốc gia vừa xây dựng gi o trình và giảng dạy ngôn ng dân tộc thiểu số ở nh ng mức độ kh c nhau. Cũng phải nói thêm là không phải địa phương nào cũng có điều kiện để dạy song ng . Và nếu 53 dân tộc thiểu số phải xây dựng 53 bộ gi o trình, đào tạo cho một hệ thống gi o viên đủ tiêu chuẩn để đứng lớp trong gi o dục song ng như yêu cầu thì tiềm lực kinh tế của nước Việt Nam hiện nay chưa đủ để đ p ứng. Nên tuy bản chất của vấn đề là tiếp cận song ng , nhưng thực tế hiện nay là đang thực hiện nhiệm vụ gi o dục tiếng quốc gia là ngôn ng bắt buộc, còn gi o dục tiếng mẹ đẻ là hình thức gi o dục ngôn ng ở mức khuyến khích. Như Giáo sư từng nhận xét, Việt Nam là một trong những quốc gia có chính sách tốt nhất trong thực hiện bảo tồn nguồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Tuy nhiên đó là mặt chính sách, chứ chưa phải là những giải pháp cụ thể. Trên cương vị là nhà nghiên cứu về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, giáo sư thấy Việt Nam đã làm được những điều gì và giáo sư có đề nghị ra sao để sự bảo tồn này trở nên bền vững? GS.TS Trần Trí Dõi: Tại Việt Nam, tôi đã cùng một số nhà nghiên cứu c nhân như GS M. Ferlus TS A. Michau người Ph p thu thập và xây dựng giới thiệu một Thư viện âm thanh ngôn ng c c dân tộc thiểu số Việt Nam. Nhóm làm việc đã tập hợp, bảo tồn được 11 ngôn ng thuộc nhóm c c dân tộc hay tộc người rất ít người, trong đó có nhiều ngôn ng đang có nguy cơ bị biến mất. Tôi biết hiện nay, Bộ Khoa học & Công nghệ cũng đang có một đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia về thu thập lại d liệu tiếng nói của c c dân tộc hay tộc người đang có nguy cơ bị biến mất sắp được hoàn thành. Còn theo quan điểm mà tôi đã có dịp trình bày trong c c công trình nghiên cứu cũng như nh ng buổi hội thảo trong và ngoài nước, thì chính việc người dân tộc thiểu số sử dụng tốt tiếng Việt - ngôn ng quốc gia sẽ là một trong nh ng biện ph p quan trọng nhất đảm bảo cho tính đa dạng ngôn ng , đặc biệt với bối cảnh đa dân tộc đan xen ở Việt Nam. Bởi khi tất cả c c dân tộc đều được học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt trong đời sống xã hội thì họ không có nhu cầu bắt buộc phải sử dụng tiếng dân tộc kh c có số lượng người nói đông hơn trong địa bàn mình sinh sống. Họ có thể sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp xã hội và khi quay trở về ngôi nhà nhà của mình thì họ có thể giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ với người trong gia đình, trong dòng tộc. Chính ngôn ng quốc gia sẽ là một trong nh ng phương tiện để mọi người dân tộc thiểu số bình đẳng về mặt ngôn ng . n ngôn ngữ của họ Hìnhảnh củamột dân tộc thiểu số tạiViệt Nam. Người dân tộc thiểu số thamgiamột hoạt động tín ngưỡng tại buôn làng của mình. Theo UNESCO, một ngôn ngữ nên được sử dụng bởi tối thiểu 10.000 người để đảm bảo sự di truyền giữa các thế hệ. Nhưng trên thực tế, cũng không có gì đảm bảo cho việc chuyển giao ngôn ngữ cho thế hệ tiếp theo nếu ngôn ngữ đó được sử dụng bởi ít hơn 100.000 người. GS.TS Trần Trí Dõi
Made with FlippingBook
RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==