Ngày Nay số 447

Kỹ thuật làm giấy dó xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ III. Nhờ đặc tính tự nhiên của vỏ cây dó (Rhamnoneuron balansae), giấy dó nổi tiếng với độ bền, dai và những đường vân tinh tế trên mặt giấy. Trong suốt chiều dài lịch sử, giấy dó đã trở thành một phần văn hóa lúa nước Việt Nam: từ thư tịch, chiếu chỉ cho tới những câu đối thầy đồ và tranh HàngTrống, Đông Hồ. Dưới sự phát triển của công nghiệp hóa - hiện đại hóa, giấy dó và phương pháp sản xuất giấy dó không còn được sử dụng và biết đến nhiều như trước nên các phương pháp làm giấy và sản phẩm liên quan cùng làng nghề giấy dó cũng dần bị thất truyền. Từ thư pháp đến sứ mệnh bảo tồn di sản Hành trình của chị Trần Hồng Nhung với giấy dó bắt nguồn từ một dự án tình cờ cách đây hơn 10 năm, khi chị tham gia cùng một người bạn Việt kiều nhằm“đưa thư pháp Việt ra thế giới”. “Lúc đó tôi giúp bạn vì thấy dự án khá ý nghĩa vì hình ảnh thầy đồ viết chữ, cho chữ là một truyền thống rất đẹp. Bắt đầu từ khi ấy tôi mới tìmhiểu về giấy dó”, chị cho biết. Song, khi trở về Việt Nam sau thời gian du học, chị Nhung nhận ra nghề làm giấy dó đang đứng trước nguy cơ maimột. Các làngnghề truyền thống như Dương Ô (Bắc Ninh), Yên Thái (Hà Nội) hay cộng đồng dân tộc Mường ở Hòa Bình chỉ còn lẻ tẻ vài hộ duy trì bởi quá trình sản xuất thủ công vất vả, thu nhập bấp bênh, trong khi nguyên liệu cây dó ngày càng khan hiếm giấy công nghiệp, mỗi một tờ giấy dó làm ra là công sức của một quá trình vất vả hàng tháng trời từ khi cắt thân cây về, đem hấp, tách vỏ, gọt bẩn rồi đập vỏ để tách sợi, cho vào khung ép và đặc biệt là khâuphơi giấy cuối cùng. Khi trời nồm ẩm hoặc mưa, giấy sẽ được phơi bằng lò sấy. Tại Zó, tuy có một số máy móc hỗ trợ như máy nghiền bột giấy, lò sấy… chỉ được dùng khi trời mưa hay nồm ẩm tùy nơi, đa phần vẫn làm hoàn toàn bằng tay và cách làm giấy vẫn giống hệt như các cụ trước đây. Đó là lý do vì saomỗi tờgiấyđềumangmột cá tính riêng nào đó dù được làmra từmột quy trình chung. Giấy dó đúng quy trình chuẩn nổi tiếng với độ dai, ngoài ra còn có tính năng chống ẩm, chốngmối mọt và có tuổi thọ dài lên đến hàng trăm năm. Việc ảnh hưởng nhất tới tính bền dai của giấy là khâu giã nguyên liệu, từ Bình) để xây dựng chuỗi cung ứng bền vững, từ trồng cây đến sản xuất, thậm chí nhiều năm liền lặn lội vào rừng sâu nghiên cứunguồngốc cây dó, rồi nhận ra được lỗ hổng của chuỗi cung ứng. “Mỗi một tờ giấy dó là độc bản” Để làm giấy dó, người nghệ nhân phải tuân theo một quy trình cụ thể được làm thủ công bằng tay. Thay vì xay vụn cây ra thành bột bằng máy móc như các loại NGỌC ÁNH Trong khi nhiều người chạy theo nghề “hot” thì Trần Hồng Nhung - nhà sáng lập Zó Project lại mạnh dạn đi theo con đường riêng, gắn đời mình với những tờ giấy dó mỏng manh, nỗ lực đưa truyền thống đến gần nhịp sống hiện đại. “Khởi nghiệp” với do khai thác không bền vững. Chị Nhung muốn tìm một phương thức mới trong bảo tồn. Kinh doanh giấy dó không thể giải quyết bằngmô hình thươngmại truyền thống “mua rẻ bán đắt”, mà để có tính lâu dài, ổn định, thì phải bằng mô hình kinh doanh xã hội, tính đến bảo tồn vùng nguyên liệu,môi trườngvà các giá trị văn hóa. Từ những tâm huyết đó, vào tháng 6/2023, chị Trần Hồng Nhung đã thành lập dự án Zó Project. Hướng đến giá trị cuối cùng là bảo tồn, phát triển giấy dó Việt, hành trình của của chị Nhung đã trải qua không ít khó khăn. Những bước đi đầu tiên của chị Nhung đầy thử thách: chị rong ruổi đến các làng nghề ở Bắc Ninh và Hòa Bình để học hỏi từ nghệ nhân, chứng kiến quy trình sản xuất thủ công phức tạp kéo dài 7-10 ngày, từ trồng cây dó, ngâmvỏ, nghiền bột đến se giấy. Chị phải thử nghiệm hàng trăm lần, hợp tác với nhóm nghệ nhân Suối Cỏ (huyện Lương Sơn, Hòa Chị TrầnHồngNhung, nhà sáng lậpZóProject. Nhữngmónđồ chơi TrungThuđược làmtừgiấy Một số sảnphẩm được sản xuất ởZó. NGAYNAY.VN 10 CHUYÊNĐỀ Số447 | ThứNăm, ngày 18/9/2025

RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==