Ngày Nay số 466-476

Thập kỷ quốc tế Từ góc nhìn quốc tế, PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương cho rằng chính bối cảnh thế giới đang bước vào giai đoạn đa khủng hoảng là yếu tố then chốt giúp Việt Nam thuyết phục UNESCO và các quốc gia đồng bảo trợ. “Khi xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu, đứt gãy chuỗi cung ứng, phân cực xã hội và rủi ro công nghệ cùng gia tăng, những mô hình phát triển thiên về chỉ số kinh tế ngày càng bộc lộ giới hạn. Sự thiếu hụt các yếu tố gắn kết xã hội, chiều sâu văn hóa và bản sắc cộng đồng khiến nhiều xã hội dễ tổn thương trước khủng hoảng kéo dài. Trong bối cảnh đó, việc tái khẳng định vai trò của văn hóa như nền tảng kiến tạo bản sắc, nguồn lực cho đổi mới và cơ chế điều tiết xã hội không còn là lựa chọn mang tính lý tưởng, mà trở thành nhu cầu chung của cộng đồng quốc tế”, PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương cho biết. Theo đó, với kinh nghiệm thực tiễn, Việt Nam có thể chia sẻ với các quốc gia đang phát triển ba nhóm tiếp cận chính. Trước hết là gắn bảo tồn di sản với phát huy di sản gắn với sinh kế và phát triển cộng đồng, trong đó cộng đồng được coi là chủ thể trung tâm và di sản được chuyển hóa thành nguồn lực thông qua du lịch có trách nhiệm, nghề thủ công, thiết kế sáng tạo và các sản phẩm văn hóa địa phương. Tiếp đến là kết nối văn hóa với công nghiệp sáng tạo và đổi mới, thúc đẩy hình thành hệ sinh thái sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực đa kỹ năng và khuyến khích doanh nghiệp văn hóa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Cuối cùng là thúc đẩy mô hình hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng, với Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, doanh nghiệp tổ chức và vận hành thị trường, còn cộng đồng bảo đảm giá trị cốt lõi và sự đa dạng văn hóa. Chính sự kết hợp này giúp văn hóa không chỉ được bảo vệ, mà còn được kích hoạt như một động lực thực chất cho phát triển bền vững. Kỳ vọng những thay đổi thực chất Dù nhận được sự đồng thuận cao, Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững của Việt Nam cũng đặt ra những thách thức không nhỏ, trong đó cốt lõi là nguy cơ các cam kết quốc tế chỉ dừng lại ở tầng diễn ngôn. Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương, bài toán khó nhất không nằm ở việc đạt được sự ủng hộ về mặt nguyên tắc, mà ở khả năng chuyển hóa những tuyên bố chung thành thay đổi cụ thể trong chính sách, phân bổ nguồn lực và thực tiễn quản lý văn hóa ở từng quốc gia. Đây cũng là điểm mà Việt Nam đặc biệt lưu ý ngay từ khâu đề xuất, khi nhấn mạnh yêu cầu về tính khả thi và khả năng theo dõi, tránh lặp lại tình trạng các sáng kiến quốc tế trước đây thiếu công cụ thực hiện và đánh giá. Trên cơ sở kinh nghiệm trong nước, Việt Nam khuyến khích các quốc gia lồng ghép văn hóa một cách thực chất vào chiến lược phát triển. Điều này bao gồm việc từng bước gia tăng đầu tư cho văn hóa, coi trọng phát triển nguồn nhân lực sáng tạo và xây dựng các công cụ theo dõi tiến bộ phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia. Một rào cản mang tính cấu trúc khác được bà Nguyễn Thị Thu Phương chỉ ra là cách văn hóa vẫn thường bị đánh giá thấp trong tư duy phát triển do khó đo lường. Trong thời gian dài, văn hóa được thừa nhận là nền tảng tinh thần, nhưng các đóng góp cụ thể cho tăng trưởng, việc làm và đổi mới sáng tạo lại chưa được phản ánh đầy đủ trong hệ thống chỉ số. Ngay cả những giá trị có thể lượng hóa như đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GDP hay tạo việc làm cũng thường bị phân tán trong các thống kê ngành, khiến văn hóa khó có tiếng nói đủ trọng lượng trong quá trình hoạch định chính sách và phân bổ ngân sách. Việc thiếu hệ thống dữ liệu đồng bộ, công cụ theo dõi và cơ chế phối hợp liên ngành càng làm trầm trọng thêm tình trạng này. Nhìn về mốc năm 2036, PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương kỳ vọng Thập kỷ sẽ tạo ra một chuyển biến căn bản trong tư duy xã hội Việt Nam, coi văn hóa như một dạng hạ tầng mềm của phát triển, tương tự như hạ tầng giao thông hay hạ tầng số. Điều này đòi hỏi đầu tư có kế hoạch, tầm nhìn dài hạn và gắn chặt với hiệu quả xã hội bền vững, thay vì những dự án ngắn hạn mang tính phong trào. n Nếu sáng kiến Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững giai đoạn 2027 - 2036 đạt được mục tiêu, văn hóa sẽ được tích hợp một cách tự nhiên vào chiến lược phát triển, đồng thời từng bước hình thành hệ thống thông tin và dữ liệu về văn hóa và sáng tạo, qua đó nâng cao vị thế và điều kiện làm việc của người làm sáng tạo. PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Thể thao và Du lịch Việt Nam Thứ trưởng BộNgoại giao Ngô LêVăn cùngĐoànđại biểuViệt Nam thamdựKỳ họp lần thứ43 Đại hội đồng UNESCO. Ảnh: BộNgoại giao. Chuỗi sựkiệnvănhóadày đặc trongnăm2025 cho thấy rõquyết tâm củaViệt Namtrongviệc thúc đẩy vănhóavì phát triểnbềnvững. Ảnh: UNESCO. PGS.TS. Nguyễn Thị ThuPhương phát biểu tại DiễnđànSáng tạo châuÁ. Ảnh: Vicas. NGAYNAY.VN 15 XUÂN TIẾN LÊN Xuân Bính Ngọ 2026

RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==