Ngày Nay số 466-476

Với thực tiễn trên, sáng kiến của Việt Nam đã được UNESCO thông qua và đang trình lên Liên Hợp Quốc, đặt ra những yêu cầu mới về chiều sâu tư duy cũng như mức độ cam kết đối với phát triển bền vững. Văn hóa như trụ cột phát triển PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội, chia sẻ rằng bản thân ý tưởng về một thập niên văn hóa từng được UNESCO triển khai trong quá khứ. Trong đó, Thập kỷ quốc tế về phát triển văn hóa giai đoạn 1988–1997 là một dấu mốc quan trọng, góp phần đưa văn hóa từ vị trí thứ yếu trở thành mối quan tâm toàn cầu. Từ nền tảng đó, hàng loạt công ước, hội nghị và tuyên bố của các nhà lãnh đạo tại nhiều quốc gia trên thế giới về văn hóa đã ra đời, mang đến những chuyển biến đáng kể trong nhận thức của công chúng, cũng như khuôn khổ chính sách và việc phân bổ nguồn lực đầu tư. Tuy nhiên, theo PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là nhắc lại những thành quả đã có, mà quan trọng hơn là trả lời câu hỏi văn hóa cần đóng vai trò gì trong một thế giới đầy bất ổn, khi văn hóa không thể tiếp tục đứng bên lề phát triển. Ngược lại, cần nhìn nhận văn hóa như một kênh điều tiết quan trọng, góp phần thúc đẩy hòa bình, sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa các quốc gia, đúng với tinh thần nền tảng mà UNESCO theo đuổi. Cách nhìn trên cũng được PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Thể thao và Du lịch Việt Nam, phân tích và làm rõ hơn ở cấp độ chính sách. Theo bà, điểm đột phá cốt lõi của sáng kiến Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững không nằm ở tên gọi hay thời hạn mười năm, mà ở việc đặt văn hóa vào vị trí trung tâm hơn trong tư duy phát triển. Cụ thể, thay vì được xem như yếu tố hỗ trợ hay một nền tảng trừu tượng, văn hóa trong sáng kiến của Việt Nam được định vị như một trụ cột có cam kết rõ ràng ở tầm quốc tế, gắn trực tiếp với phát triển bền vững và năng lực chống chịu của xã hội trước các khủng hoảng. Tuy UNESCO đã xây dựng nhiều khung chính sách quan trọng về văn hóa, song theo PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương, sáng kiến lần này tạo ra khác biệt căn bản ở chỗ nó cung cấp một khung thời gian đủ dài để các quốc gia từng bước điều chỉnh chính sách, huy động nguồn lực, tăng cường hợp tác và lan tỏa các thực hành tốt. Ở nhiều điều khoản, các bộ luật này sớm tiếp cận những chuẩn mực tiến bộ của quốc tế, đặc biệt trong bảo vệ di sản, quyền tác giả và thúc đẩy sáng tạo, qua đó tạo ra một nền tảng pháp lý đủ linh hoạt để thích ứng với biến đổi của đời sống văn hóa đương đại. Chính sự kết hợp giữa tính bảo tồn và tính mở này khiến kinh nghiệm lập pháp của Việt Nam trở thành một điểm tham chiếu mà nhiều quốc gia đang phát triển có thể quan tâm khi điều chỉnh chính sách của mình. Đây là bước chuyển quan trọng từ định hướng sang hành động, từ tuyên bố sang xây dựng năng lực thực thi ở quy mô toàn cầu. Chính sự chuyển dịch này đã tạo nên sức thuyết phục của sáng kiến, thể hiện qua việc Nghị quyết được thông qua với sự đồng bảo trợ của 71 quốc gia, đồng thời cũng phản ánh nhu cầu chung của cộng đồng quốc tế trong giai đoạn phát triển hiện nay. Tham chiếu dựa trên chính sách và thực tiễn Bên cạnh đó, điểm then chốt khiến sáng kiến của Việt Nam nhận được sự quan tâm rộng rãi ở chỗ chúng ta không dừng lại ở việc đề xuất một khung tư duy mang tính nguyên tắc, mà còn có khả năng chứng minh tính khả thi của nó bằng chính quá trình phát triển trong nước. Chia sẻ với Ngày Nay, PGS.TS. Bùi Hoài Sơn nhận định: “Việt Nam là trường hợp phù hợp để đề xuất và triển khai một thập kỷ về văn hóa, bởi chúng ta là quốc gia đã đầu tư một cách bền bỉ và có hệ thống cho lĩnh vực văn hóa, cả ở cấp độ thể chế lẫn phân bổ nguồn lực”. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã từng bước hình thành một hệ sinh thái pháp lý tương đối đầy đủ cho phát triển văn hóa. Các đạo luật như Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh, Luật Bản quyền tác giả không chỉ đóng vai trò điều chỉnh hoạt động, mà còn thể hiện tư duy định hướng và mở đường cho các lĩnh vực sáng tạo. Việc Việt Nam khởi xướng Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững giai đoạn 2027–2036 không phải là một động thái mang tính biểu tượng. Trong bối cảnh các khủng hoảng toàn cầu đan xen và kéo dài, buộc các quốc gia phải xem xét lại những nền tảng điều tiết phát triển, văn hóa ngày càng bộc lộ vai trò vượt ra ngoài bảo tồn hay biểu đạt bản sắc, trở thành yếu tố góp phần củng cố gắn kết xã hội và nâng cao khả năng chống chịu. Từ sáng kiến của Việt Nam đến về văn hóa vì phát triển bền vững NGUYỆT LINH Đoànđại biểuViệt NamdựHội nghị Thếgiới vềChính sáchVănhóavàPhát triểnbềnvững (MONDIACULT 2025) doUNESCOchủ trì tại Tây BanNha. Ảnh: BộVH,TT&DL. UNESCO hoan nghênh mạnh mẽ sáng kiến của Việt Nam về việc thiết lập Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững, một đề xuất đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi tại Đại hội đồng lần thứ 43. Đây là một sáng kiến vừa kịp thời vừa thể hiện tầm nhìn dài hạn. Ông Jonathan Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam NGAYNAY.VN 14 Xuân Bính Ngọ 2026 XUÂN TIẾN LÊN

RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==