với đời sống hôm nay. Một số lễ hội hiện nay cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa nghi lễ truyền thống với biểu diễn nghệ thuật, trò chơi dân gian, giới thiệu sản phẩm địa phương, tạo nên sức hút mới cho điểm đến. Nhưng điều đáng lo là khi sân khấu hóa vượt quá giới hạn cần thiết. Lúc đó, lễ hội sẽ bị kéo khỏi nền tảng văn hóa cộng đồng để trở thành một “sản phẩm biểu diễn” thuần túy. Khi nghi lễ bị rút ngắn để nhường chỗ cho chương trình hoành tráng; khi cộng đồng bản địa không còn là chủ thể mà chỉ đứng bên lề; khi âm thanh, ánh sáng, màn hình, hiệu ứng lấn át ký ức, tín ngưỡng và chiều sâu biểu tượng, thì lễ hội rất dễ mất hồn. Mất hồn cốt không phải vì có công nghệ, mà vì đánh mất trật tự giá trị: Coi phần trình diễn là trung tâm, còn phần văn hóa gốc chỉ là cái cớ. Theo tôi, nguyên tắc cân bằng phải rất rõ. Thứ nhất, phần lõi nghi lễ, tín ngưỡng, tập quán và ký ức cộng đồng không được tùy tiện cải biên. Thứ hai, mọi hình thức sáng tạo mới chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ diễn giải, không thay thế bản thể lễ hội. Thứ ba, cộng đồng địa phương phải là chủ thể quyết định nhịp điệu văn hóa của lễ hội. Công nghệ nên làm cho lễ hội dễ hiểu hơn, đẹp hơn, an toàn hơn, chứ không được biến lễ hội thành một sân khấu xa lạ với chính cộng đồng đã sinh ra nó. Khi giữ được nguyên tắc ấy, chúng ta sẽ không đối lập truyền thống với hiện đại, mà làm cho hiện đại phục vụ truyền thống một cách văn minh. Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Báo cáo chính trị Đại hội XIV đã chuyển nhận thức từ bảo tồn thuần túy sang phát triển kinh tế di sản, coi lễ hội là nguồn tài nguyên tạo nên chuỗi giá trị kinh tế. Theo ông, “kinh tế di sản” nhìn từ các lễ hội đã thực sự hình thành hay chưa? - Có thể nói là chúng ta đã bắt đầu bước vào quỹ đạo của “kinh tế di sản”, nhưng mới ở giai đoạn mở đầu, chưa thật sự hình thành một mô hình trưởng thành, đồng bộ và bền vững. Thực tế, ở nhiều nơi, lễ hội đã không còn chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng đơn lẻ. Nó đã kéo theo chuỗi dịch vụ lưu trú, ẩm thực, vận chuyển, sản phẩm thủ công, quà tặng văn hóa, trình diễn dân gian, OCOP, trải nghiệm điểm đến. Tuy nhiên, nói “kinh tế di sản thực sự” thì tôi nghĩ chúng ta vẫn còn thiếu ít nhất ba điều. Một là thiếu hệ thống định giá và đo lường rõ ràng để biết di sản đóng góp đến đâu trong chuỗi giá trị địa phương. Hai là thiếu cơ chế phân phối lợi ích minh bạch, để cộng đồng - chủ thể sáng tạo và gìn giữ di sản - được hưởng phần xứng đáng. Ba là thiếu tư duy quản trị dài hạn, nên nhiều nơi mới dừng ở khai thác dòng khách, chứ chưa xây được hệ sinh thái sản phẩm văn hóa có chiều sâu. Không gian văn hóa chân thực Để lễ hội vận hành hiệu quả như nguồn tài nguyên kinh tế di sản bền vững, ông có đề xuất cơ chế phối hợp nào giữa chính quyền địa phương mô hình hai cấp, cộng đồng, doanh nghiệp và giới nghiên cứu? - Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp mà Nghị quyết 80 đã nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thiết chế văn hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động ở cơ sở, cấp chính quyền địa phương phải đóng vai trò kiến tạo thể chế, ban hành quy chế quản lý, kiểm soát không gian lễ hội, tiêu chuẩn dịch vụ, an ninh, môi trường, giá cả. Nhưng chính quyền không nên làm thay cộng đồng. Cộng đồng cư dân, các cụm dân cư, dòng họ, người thực hành nghi lễ, các nghệ nhân mới phải là chủ thể văn hóa của lễ hội. Họ cần có tiếng nói thực chất trong việc bảo vệ nghi thức, nhịp điệu và giới hạn thiêng của lễ hội. Doanh nghiệp thì nên được xem là đối tác phát triển, không phải là người “mua quyền khai thác” lễ hội. Họ có thể đầu tư vào hạ tầng mềm, dịch vụ, truyền thông, công nghệ số, sản phẩm trải nghiệm, nhưng phải hoạt động trong một khung quy chuẩn do địa phương và cộng đồng đồng thuận. Còn giới nghiên cứu cần làm một việc rất quan trọng: Lập hồ sơ tri thức cho từng lễ hội, nhận diện phần lõi bất khả xâm phạm, tham gia tư vấn quy hoạch không gian lễ hội, đánh giá sức chịu tải văn hóa và môi trường, cũng như hỗ trợ định giá giá trị kinh tế - xã hội của di sản. Đồng thời, cần có cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch: Một phần nguồn thu phải được tái đầu tư cho bảo tồn, cho đào tạo truyền dạy, cho phúc lợi cộng đồng địa phương. Khi người dân thấy họ không chỉ là người phục vụ du khách, mà là người giữ hồn và cũng được hưởng lợi công bằng từ di sản của mình, thì lễ hội mới có nền tảng bền vững thật sự. Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa và du lịch thông minh, xanh, sạch ngày càng được nhấn mạnh, theo ông cần làm gì để xây dựng thương hiệu điểm đến Việt Nam gắn với giá trị văn hóa chân thực của lễ hội? - Muốn xây dựng thương hiệu điểm đến Việt Nam từ lễ hội, chúng ta phải bắt đầu từ chữ “thật”. Thật trong câu chuyện văn hóa, thật trong trải nghiệm cộng đồng, thật trong không gian sống của di sản. Theo tôi, cần làm đồng thời mấy việc: Trước hết, phải chuẩn hóa bản sắc cho từng lễ hội: Lễ hội ấy kể câu chuyện gì, đại diện cho vùng đất nào, mang giá trị nào không thể thay thế. Trên nền đó mới thiết kế sản phẩm du lịch trải nghiệm: Đi cùng nghệ nhân, học một nghi thức, nghe một tích xưa, nếmmột món ăn gốc, tham gia một trò chơi dân gian, khám phá một làng nghề. Cùng với đó, phải xanh hóa tổ chức lễ hội: Giảm nhựa dùng một lần, kiểm soát rác thải, tổ chức giao thông thông minh, số hóa hướng dẫn và vé, công khai chuỗi dịch vụ văn minh. Phải kiên quyết loại bỏ những biểu hiện thương mại hóa phản cảm: Chèo kéo, đổi tiền lẻ, mê tín vụ lợi, bày bán lộn xộn trong không gian thiêng. Thương hiệu điểm đến mạnh không đến từ sự ồn ào nhất thời, mà đến từ cảm giác tin cậy và rung động mà du khách mang về. Khi lễ hội Việt Nam vừa đẹp, vừa sạch, vừa sâu, vừa thật, vừa văn minh mà vẫn giữ được tính cộng đồng và tính thiêng, lúc đó nó không chỉ là sản phẩm du lịch, mà là một biểu tượng mềm của quốc gia trong thời đại mới. n nhiêu thì vừa? Chúng ta đã tiến một bước dài trong quản lý, nhưng để xây dựng một môi trường lễ hội thực sự văn minh, bền vững, có chiều sâu văn hóa, thì vẫn cần sự kiên trì rất lớn, cả trong nhận thức lẫn trong thực hành quản trị. PGS.TS Bùi Hoài Sơn NGAYNAY.VN 7 CHUYÊN ĐỀ Số 477 + 478
RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==