Ngày Nay số 477-478

SỐ477+478 TẠPCHÍ MIỄN PHÍ CƠQUAN NGÔN LUẬN CỦA LIÊN HIỆP CÁC HỘI UNESCOVIỆT NAM ORGAN OF VIETNAM NATIONAL FEDERATION OF ASSOCIATIONS FOR UNESCO Lễ hội đầu năm - Kho tàng đang được đánh thức

Lễ hội đầu năm - Kho tàng Tư duy đột phá Điểm cốt lõi nhất của Nghị quyết 80 là sự thay đổi căn bản trong cách nhìn nhận vị trí của văn hóa. Nếu trong các nghị quyết trước đây, văn hóa chủ yếu được nhấn mạnh với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, thì ở Nghị quyết 80, bên cạnh việc kế thừa các quan điểm, chủ trương trước đây, văn hóa được đặt vào vị trí nền tảng, động lực then chốt, trụ cột phát triển và hệ điều tiết quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Sự dịch chuyển về tư duy này có ý nghĩa lớn: Văn hóa được xác định là lực lượng sản xuất, là nguồn lực kinh tế thực sự. Lần đầu tiên, văn hóa được chuyển từ vị trí lĩnh vực phụ trợ sang lực lượng chiến lược của phát triển, đặt con người làm trung tâm và mở rộng không gian sáng tạo, cạnh tranh, gắn sản phẩm văn hóa với thị trường. Kho tàng lễ hội Xuân Bính Ngọ 2026 chứng kiến mùa lễ hội sôi động và có nhiều điểm mới đáng ghi nhận. Theo thống kê, cả nước hiện có hơn 8.000 lễ hội, tập trung chủ yếu vào dịp đầu xuân, trong đó riêng Hà Nội chiếm khoảng 1.500 lễ hội. Không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa của người dân, nhiều lễ hội đang từng bước trở thành nguồn lực quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa, hình thành các sản phẩm du lịch đặc sắc. Dấu ấn rõ nhất là những thay đổi trong cách tổ chức. Hà Nội định hướng quản lý lễ hội 2026 theo hướng chuyên nghiệp hơn, coi lễ hội không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng mà còn là thành tố của công nghiệp văn hóa, gắn với phát triển du lịch bền vững. Những giải pháp như lập cơ sở dữ liệu lễ hội, triển khai bản đồ số theo thời gian thực và thí điểm lễ hội thông minh được coi là bước chuyển đáng chú ý. Lễ hội Xuân Yên Tử là một ví dụ tiêu biểu về hướng đi mới này. Năm 2026 là mùa lễ hội đầu tiên kể từ khi Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Về mục tiêu cụ thể, Nghị quyết đặt ra những con số có tính đo lường rõ ràng. Ngành công nghiệp văn hóa phải đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và phấn đấu 9% vào năm 2045, đồng thời hình thành 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa. Bên cạnh đó, Nghị quyết tập trung phát triển có trọng tâm, trọng điểm một số lĩnh vực công nghiệp văn hóa, bao gồm điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang, thủ công truyền thống, trò chơi điện tử, ẩm thực và phần mềm, nội dung số. Đặc biệt, Nghị quyết đặt mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế, trở thành một trong những trung tâm công nghiệp văn hóa - sáng tạo năng động. Đây là định hướng trực tiếp liên quan đến việc nâng tầm các lễ hội truyền thống, biến chúng từ sinh hoạt cộng đồng thành sản phẩm du lịch văn hóa có sức cạnh tranh quốc tế. HỮU MINH Hội chợ Mùa Xuân 2026 với nhiều chương trình nghệ thuật thu hút khách tham quan mua sắm Mùa Xuân không chỉ là thời điểm của tín ngưỡng và tâm linh, đó còn là mùa văn hóa sôi động nhất trong năm với hàng ngàn lễ hội đầu xuân và ngày càng trở thành một nguồn lực kinh tế không thể xem nhẹ. Ngày 7/1/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/ TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, ra đời trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, thịnh vượng. Đây là một dấu mốc chiến lược, mở ra hướng đi mới cho việc gắn kết lễ hội truyền thống với phát triển công nghiệp văn hóa, một lĩnh vực mà đất nước đang có nhiều tiềm năng chưa được khai thác đúng mức. NGAYNAY.VN 2 Số 477 + 478 CHUYÊN ĐỀ

đang được đánh thức Bạc được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa Thế giới vào tháng 7/2025. Chương trình nghệ thuật khai hội sử dụng âm nhạc, múa, sân khấu, mỹ thuật trình diễn và công nghệ ánh sáng - hình ảnh hiện đại để tái hiện hành trình lịch sử, văn hóa và tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, được định hướng trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch tiêu biểu. Đây không còn là lễ hội đơn thuần mà đó là một sản phẩm công nghiệp văn hóa được thiết kế bài bản, kết hợp di sản với công nghệ, tín ngưỡng với trải nghiệm du lịch. Trước đó, đầu tháng 2/2026 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm quốc gia, Hội chợ Quốc gia Mùa Xuân 2026 với chủ đề “Kết nối thịnh vượng - Đón xuân huy hoàng” mở ra phân khu “Tinh hoa Văn hóa Việt Nam” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện, giới thiệu và thương mại hóa các sản phẩm đặc trưng của 12 ngành công nghiệp văn hóa gắn với chủ đề Tết cổ truyền và mùa Xuân Bính Ngọ. Sự hiện diện của không gian thương mại hóa văn hóa ngay trong lòng một hội chợ quốc gia là minh chứng rõ ràng cho tinh thần Nghị quyết 80 đang đi vào thực tiễn. Kết nối cần được kiến tạo Thực tế cho thấy, một lễ hội truyền thống khi được khai thác bài bản có thể tạo ra chuỗi giá trị kinh tế rộng lớn: Từ vận tải, lưu trú, ẩm thực đến thủ công mỹ nghệ, biểu diễn nghệ thuật, nội dung số và quảng bá thương hiệu địa phương. Mỗi sự kiện văn hóa lớn tạo việc làm cho hàng nghìn lao động ở các khâu kỹ thuật, hậu cần, sáng tạo nội dung và truyền thông. Tỉnh Ninh Bình, với hơn 700 lễ hội lớn nhỏ, đã gắn việc tổ chức các lễ hội với mục tiêu phát triển du lịch di sản, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, hướng tới xây dựng Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030. Đây là mô hình đáng nhân rộng: Lễ hội không tách rời quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội mà trở thành một trụ cột trong chiến lược tổng thể. Nghị quyết 80 cũng nhấn mạnh vai trò của công nghệ và chuyển đổi số trong phát triển công nghiệp văn hóa. Nghị quyết đặt vấn đề triển khai nghiên cứu, xây dựng thí điểm các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong toàn bộ chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp văn hóa, từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu thụ và bảo vệ bản quyền. Điều này có ý nghĩa thiết thực với lễ hội: Livestream, nội dung số, bản đồ thông minh, camera AI quản lý dòng khách - tất cả đều là những công cụ giúp lễ hội trở thành sản phẩm có thể lan tỏa vượt ra ngoài địa giới vật lý. Thách thức và yêu cầu đặt ra Dù có nhiều chuyển biến tích cực, mùa lễ hội xuân 2026 cũng bộc lộ không ít thách thức. Áp lực lượng khách tăng đột biến tại các điểm tâm linh lớn như chùa Hương, Yên Tử, Tràng An… đặt ra bài toán về quản lý sức chứa, bảo tồn di sản và duy trì chất lượng trải nghiệm. Dịch vụ tự phát, ứng xử thiếu văn minh trong không gian tín ngưỡng là những vấn đề tồn tại từ nhiều năm, đòi hỏi giải pháp dài hạn hơn là chỉ tăng cường lực lượng trật tự theo mùa. Để phát triển văn hóa, gắn văn hóa với sự phát triển của công nghiệp văn hóa và thị trường, cần phải có cơ chế hợp tác công tư phù hợp, đúng quy luật phát triển bền vững. Nghị quyết 80 đã mở ra hành lang chính sách nhưng để lễ hội thực sự trở thành ngành công nghiệp, cần có đầu tư bài bản vào hạ tầng, đào tạo nhân lực, xây dựng thương hiệu và cơ chế tài chính linh hoạt thu hút khu vực tư nhân tham gia. *** Nghị quyết 80-NQ/TW khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực nội sinh quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Tinh thần ấy tìm thấy sự cộng hưởng tự nhiên nhất trong những ngày đầu xuân. khi người Việt từ mọi miền đất nước, mọi tầng lớp xã hội, cùng hướng về các lễ hội để tìm lại cội nguồn, trao nhau niềm tin và hy vọng. Lễ hội đầu xuân là cửa ngõ tự nhiên nhất để đưa Nghị quyết 80 vào cuộc sống. Khi mỗi lễ hội được tổ chức không chỉ như một nghi lễ mà như một sản phẩm văn hóa hoàn chỉnh, có câu chuyện, có trải nghiệm, có thương mại hóa có trách nhiệm, đó là lúc công nghiệp văn hóa Việt Nam thực sự cất cánh từ chính mảnh đất truyền thống của mình. n Nghị quyết 80 đặt vấn đề triển khai nghiên cứu, xây dựng thí điểm các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong toàn bộ chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp văn hóa, từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu thụ và bảo vệ bản quyền. Điều này có ý nghĩa thiết thực với lễ hội: Livestream, nội dung số, bản đồ thông minh, camera AI quản lý dòng khách - tất cả đều là những công cụ giúp lễ hội trở thành sản phẩm có thể lan tỏa vượt ra ngoài địa giới vật lý. Nghị quyết 80 nhấn mạnh vai trò của công nghệ và chuyển đổi số trong phát triển công nghiệp văn hóa. Lễ hội mùa Xuân Côn Sơn - Kiếp Bạc 2026. NGAYNAY.VN 3 CHUYÊN ĐỀ Số 477 + 478

Ngày 7/1/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/ TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là văn kiện chiến lược quan trọng được nhiều người làm văn hóa trông đợi từ lâu và được kỳ vọng sẽ định hình hướng đi mới cho văn hóa Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Điểm đáng chú ý của Nghị quyết 80 là cách tiếp cận mang tính hệ thống đối với văn hóa. Nếu trước đây văn hóa thường được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ gìn giữ di sản và xây dựng đời sống tinh thần xã hội, thì Nghị quyết lần này đặt ra một bước tiến mới: Kết nối bảo tồn với phát triển, gắn văn hóa với kinh tế và công nghệ, đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới. Từ lời mời gọi “Bắc Bling” Tháng 3/2026 đánh dấu tròn một năm ra mắt video ca nhạc “Bắc Bling” của ca sĩ Hòa Minzy. Video sớm tạo hiệu ứng bùng nổ trên các nền tảng âm nhạc và mạng xã hội khi ra mắt tháng 3/2025 và cho đến nay đã thu hút tới 300 triệu lượt xem trên Youtube - con số mà ngay cả nhiều nghệ sĩ quốc tế cũng phải mơ ước. Điều đáng nói là “Bắc Bling” không chỉ mang đến thành công cho Hòa Minzy, mà còn kéo theo sự tăng thức không nhỏ bởi “tài sản” chỉ sinh lời khi được quản trị đúng cách. Bài toán hóc búa của các nhà làm văn hóa Việt Nam không phải thiếu lễ hội, mà phần lớn trong số đó vẫn đang tồn tại như những sự kiện địa phương khép kín: đông vui với người địa phương và các khu vực lân cận, nhưng vô hình với phần còn lại của thế giới. Nhìn vào các lễ hội thành công trên thế giới như lễ hội hóa trang Carnival ở Brazil, lễ hội hoa anh đào ở Nhật Bản hay Oktoberfest tại Đức… đều bắt nguồn từ những nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng, nhưng dần được tổ chức chuyên nghiệp để trở thành sự kiện văn hóa - du lịch mang lại nguồn thu khổng lồ mỗi năm. Tại Nhật Bản, có đến 200 ngàn lễ hội lớn nhỏ hàng năm trên toàn quốc nhưng người dân lẫn du khách không hề có cảm giác “bội thực” nhờ tư duy bảo tồn những nét tinh túy, kết hợp các yếu tố hiện đại và được quản lý theo hướng khuyến khích phát triển, tích hợp lễ hội trưởng của du lịch tỉnh Bắc Ninh. Trong ca từ, khán giả được giới thiệu những nét văn hóa, lễ hội đặc trưng của Bắc Ninh như hội Lim, quan họ… hay các địa danh nổi tiếng như chùa Dâu, đền Bà Chúa Kho, sông Như Nguyệt. Khán giả từ khắp mọi miền không khỏi háo hức, tò mò trước lời ca “Mời anh về Bắc Ninh em chơi thăm/Lễ hội nô nức đông vui quanh năm”. Theo thống kê, tỉnh Bắc Ninh trong năm 2025 đón 6,3 triệu lượt khách, tăng 26% so với năm trước với đóng góp không nhỏ đến từ “Bắc Bling”. Đó chính là tinh thần của Nghị quyết 80, khi công tác quảng bá văn hóa “chú trọng các hình thức truyền thông hiện đại, đặc biệt là truyền thông số” và đưa “công nghiệp văn hóa, sáng tạo trở thành trụ cột của phát triển bền vững”. Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam hiện có 8.868 lễ hội, trong đó lễ hội dân gian chiếm 91% (8.103 lễ hội). Con số 8.868 lễ hội vừa là tài sản mềm khổng lồ, vừa là thách Việt Nam có gần 9.000 lễ hội trải dài khắp mọi miền đất nước nhưng trong nhiều năm, phần lớn những lễ hội ấy vẫn chỉ tồn tại như những sự kiện địa phương. Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị ra đời đầu năm 2026 đặt ra một hướng đi mới: Biến những di sản văn hóa lâu đời ấy thành nguồn lực cho công nghiệp văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia. Từ tới công nghiệp lễ hội LÝQUỐC THỊNH Ca sĩ Hòa Minzy trong ca khúc Bắc Bling. NGAYNAY.VN 4 Số 477 + 478 CHUYÊN ĐỀ

vào một chuỗi giá trị kinh tế - sáng tạo rộng lớn. Từ các sản phẩm lưu niệm, ẩm thực địa phương, chương trình biểu diễn nghệ thuật cho tới các chiến dịch quảng bá trên truyền thông và nền tảng số, tất cả đều góp phần tạo nên một “nền kinh tế lễ hội” vận hành quanh năm. Tại Việt Nam, một số lễ hội đã bắt đầu cho thấy tiềm năng bước ra khỏi phạm vi cộng đồng địa phương để trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch quy mô lớn. Hội Lim ở Bắc Ninh, lễ hội chùa Hương ở Hà Nội, lễ hội đền Hùng ở Phú Thọ hay lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng… đều đã và đang thu hút hàng triệu lượt du khách mỗi năm. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một phần rất khiêm tốn so với bức tranh tổng quan lễ hội Việt Nam, khi phần lớn các lễ hội vẫn đang dừng ở mức sự kiện truyền thống, chưa được định vị như một sản phẩm của công nghiệp văn hóa với chiến lược truyền thông và phát triển dài hạn. Nghị quyết 80 ra đời đầu năm 2026 và mở ra một định hướng quan trọng: Phát triển văn hóa không chỉ là bảo tồn di sản mà còn phải chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển. Trong bối cảnh đó, lễ hội chính là điểm giao thoa giữa truyền thống và sáng tạo, giữa ký ức văn hóa và kinh tế hiện đại. Nghị quyết 80 soi đường Trong Nghị quyết 80, công nghiệp văn hóa được giao mục tiêu phát triển và đóng góp 7% GDP. Trong đó, lễ hội được định hướng “bảo tồn lễ hội truyền thống và định hướng phát triển các lễ hội mới nhằm phát huy bản sắc văn hoá, gắn với du lịch và phát triển kinh tế” cùng các mục tiêu “xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật”, “có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá tầm vóc quốc tế”. Để hiện thực hóa những mục tiêu đó, Nghị quyết 80 đã trao thanh bảo kiếm cho các nhà làm văn hóa với những thay đổi rõ rệt về cơ chế: chuyển tư duy quản lý sang quản trị, từ tiền kiểm sang hậu kiểm, trao quyền chủ động cho địa phương và doanh nghiệp sáng tạo. Với lễ hội, đây là những thay đổi có tính nền tảng. Nhìn lại hành trình của lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng (DIFF), có thể thấy rõ quá trình một sự kiện địa phương lột xác thành thương hiệu quốc gia. Khởi đầu năm 2008, DIFF ngày nay đã trở thành sự kiện thu hút các đội pháo hoa đến từ hàng chục quốc gia, kéo dài suốt mùa hè và tạo ra tác động kinh tế lan tỏa toàn vùng duyên hải miền Trung. Điều tạo nên sự khác biệt cơ bản nằm ở tư duy sản phẩm mang đúng nghĩa công nghiệp hóa: Lễ hội có nhận diện thương hiệu nhất quán, có lịch trình dài hạn để khách quốc tế lên kế hoạch, có chuỗi hoạt động ẩm thực và văn hóa bao quanh để kéo dài thời gian lưu trú. Những cơ chế tháo gỡ điểm nghẽn từ Nghị quyết 80 được kỳ vọng sẽ mở đường, nhân rộng mô hình thành công của DIFF trên khắp mọi miền quốc gia. Mỗi địa phương cần xác định một hoặc một vài lễ hội tiêu biểu có khả năng trở thành biểu tượng văn hóa trong vùng, từ đó đầu tư dài hạn về nội dung, hạ tầng, truyền thông và các sản phẩm sáng tạo đi kèm. Bên cạnh đó, công nghệ và truyền thông số sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc đưa lễ hội ra khỏi phạm vi địa lý của địa phương. Những video, hình ảnh, câu chuyện về lễ hội - nếu được kể bằng ngôn ngữ sáng tạo - hoàn toàn có thể lan tỏa tới hàng triệu khán giả trên các nền tảng trực tuyến như “Bắc Bling” đã làm. Từ âm nhạc, điện ảnh, cho đến nội dung số và thiết kế…, các ngành công nghiệp sáng tạo chính là “cánh tay nối dài” giúp lễ hội bước ra thế giới và được Nghị quyết 80 tạo điều kiện phát triển sáng tạo với định hướng “có chính sách hỗ trợ sáng tạo văn hoá trong không gian số, môi trường số, xã hội số, kinh tế số”. Hai tháng đầu năm 2026, ngành du lịch Việt Nam đã ghi nhận những con số biết nói: Tổng thu từ khách du lịch ước đạt khoảng 177.000 tỷ đồng, lượng khách quốc tế đạt gần 4,7 triệu lượt, trong đó có một phần không nhỏ đến từ các lễ hội. Nhưng những con số đó hoàn toàn có thể lớn hơn nữa, nếu biết cách khai thác, đưa những lễ hội đã gắn bó với đời sống nhân dân hàng trăm năm thành những động lực kinh tế mới. Nghị quyết 80 đã vạch ra con đường và trao ấn kiếm. Phần còn lại không nằm trong văn bản mà nằm ở quyết tâm và hành động của những nhà làm chính sách, các nghệ sĩ, người dân địa phương… tâm huyết với văn hóa, bản sắc nước nhà, để những lễ hội Việt Nam thực sự vươn tầm thế giới. n Nghị quyết 80 ra đời đầu năm 2026 và mở ra một định hướng quan trọng: Phát triển văn hóa không chỉ là bảo tồn di sản mà còn phải chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển. Trong bối cảnh đó, lễ hội chính là điểm giao thoa giữa truyền thống và sáng tạo, giữa ký ức văn hóa và kinh tế hiện đại. Lễ Tết Chol Chnam Thmay. Lễ hội đền Hùng. Lễ Nghinh Ông. NGAYNAY.VN 5 CHUYÊN ĐỀ Số 477 + 478

Lễ hội của cộng đồng và văn hóa Việt Nam Phóng viên: Thưa PGS. TS Bùi Hoài Sơn, với tư cách chuyên gia quản lý lễ hội và tác giả nhiều công trình nghiên cứu liên quan, ông đánh giá tầm quan trọng của việc gìn giữ bản sắc lễ hội truyền thống trong bối cảnh văn hóa đương đại, khi lễ hội ngày càng trở thành phần của công nghiệp văn hóa, du lịch? PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, gìn giữ bản sắc lễ hội truyền thống không chỉ là câu chuyện bảo tồn một tập quán văn hóa cũ, mà là giữ lấy một phần hồn cốt của dân tộc trong quá trình phát triển. Lễ hội hiện nay không còn chỉ diễn ra trong phạm vi làng xã như trước, mà đã bước vào không gian rộng lớn hơn của du lịch, của truyền thông, của công nghiệp văn hóa. Điều đó mở ra cơ hội rất lớn. Nghị quyết 80-NQ/TW xác định văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực và trụ cột của phát triển; đồng thời đặt mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng các thương hiệu lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế. Báo cáo chính trị Đại hội XIV cũng nhấn mạnh phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam, trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam. Vì thế, vấn đề không phải là giữ lễ hội trong trạng thái bất động, càng không phải ước đón khoảng 130.000 lượt khách, nhưng công tác bảo đảm giao thông, an ninh và hỗ trợ du khách được tổ chức tốt; Bắc Ninh, Bái Đính, Tam Chúc cũng cho thấy sự chủ động hơn trong vận hành lễ hội gắn với du lịch. Hạn chế lớn nhất hiện nay, theo tôi, vẫn là sự chênh lệch giữa các địa phương. Nơi làm tốt thì rất bài bản, nhưng vẫn có nơi chưa thực sự hiểu sâu tinh thần của lễ hội, nên dễ sa vào hình thức, dàn trải… Nghĩa là chúng ta đã tiến một bước dài trong quản lý, nhưng để xây dựng một môi trường lễ hội thực sự văn minh, bền vững, có chiều sâu văn hóa, thì vẫn cần sự kiên trì rất lớn, cả trong nhận thức lẫn trong thực hành quản trị. Nguồn lực kinh tế di sản Nhiều lễ hội gần đây được tổ chức hoành tráng với sân khấu ấn tượng, kết hợp cả công nghệ. Tuy nhiên, có lo ngại sân khấu hóa quá mức làm mất hồn cốt truyền thống. Ông nghĩ sao về sự cân bằng này? - Tôi nghĩ đây là một câu hỏi rất quan trọng, bởi nó chạm đúng vào “ranh giới mong manh” giữa sáng tạo và lệch chuẩn. Sân khấu hóa, ứng dụng công nghệ, tăng tính trình diễn không phải tự thân là điều xấu. Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa phát triển, những yếu tố ấy có thể làm cho lễ hội trở nên hấp dẫn hơn, dễ tiếp cận hơn với công chúng trẻ, với du khách, với truyền thông quốc tế. Ở một mức độ hợp lý, nó giúp kể lại câu chuyện di sản bằng ngôn ngữ của thời đại mới, làm cho những giá trị vốn tưởng xa xưa trở nên gần gũi, sống động hơn đóng băng lễ hội trong bảo tàng. Điều cốt yếu là phát triển nhưng không đánh mất căn tính. Có thể ứng dụng công nghệ, có thể mở rộng không gian trải nghiệm, có thể nâng cấp dịch vụ, nhưng không được làm nhòe đi chủ thể văn hóa là cộng đồng, không được làm mờ tính thiêng, tính nhân văn và ký ức lịch sử của lễ hội. Một lễ hội có thể tạo ra giá trị kinh tế, nhưng trước hết nó phải còn là lễ hội của nhân dân, của cộng đồng, của văn hóa Việt Nam. Chỉ khi giữ được bản sắc ấy, lễ hội mới có sức sống lâu bền, mới thực sự trở thành tài sản văn hóa sống của quốc gia. Theo ông, tổng thể việc tổ chức lễ hội truyền thống, đặc biệt tại Xuân Bính Ngọ 2026 đang diễn ra như thế nào? - Nhìn tổng thể, tôi cho rằng mùa lễ hội 2026 cho thấy một chuyển động tích cực, đáng ghi nhận. Điểm nổi bật nhất là tư duy quản lý đã có sự thay đổi rõ rệt: không còn tâm thế “đến hẹn lại lo”, xử lý bị động khi lễ hội bước vào cao điểm, mà chuyển sang chuẩn bị từ sớm, từ xa, đồng bộ hơn giữa trung ương và địa phương. Ta có thể thấy điều đó ở nhiều ví dụ cụ thể. Tại Cổ Loa, khu vực bán hàng, ẩm thực được bố trí riêng, giúp không gian nghi lễ trang nghiêm hơn. Ở lễ hội Gióng đền Sóc, nơi từng có thời điểm xảy ra lộn xộn trong rước vật phẩm và phát lộc, năm nay các hoạt động được ghi nhận diễn ra an toàn hơn nhờ chuẩn bị kỹ. Yên Tử trong 5 ngày Tết Kinh tế hóa lễ hội, bao Những năm gần đây, bên cạnh chức năng là không gian cho các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội dần chuyển mình trở thành nguồn lực kinh tế đáng chú ý. Trao đổi với Ngày Nay, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng Việt Nam mới ở giai đoạn khởi đầu của kinh tế di sản, khi nhiều cơ chế, phương thức vận hành vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. NGUYỆT LINH Cộng đồng địa phương phải là chủ thể quyết định nhịp điệu văn hóa của lễ hội. Công nghệ nên làm cho lễ hội dễ hiểu hơn, đẹp hơn, an toàn hơn, chứ không được biến lễ hội thành một sân khấu xa lạ với chính cộng đồng đã sinh ra nó. Khi giữ được nguyên tắc ấy, chúng ta sẽ không đối lập truyền thống với hiện đại, mà làm cho hiện đại phục vụ truyền thống một cách văn minh. PGS.TS Bùi Hoài Sơn NGAYNAY.VN 6 Số 477 + 478 CHUYÊN ĐỀ

với đời sống hôm nay. Một số lễ hội hiện nay cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa nghi lễ truyền thống với biểu diễn nghệ thuật, trò chơi dân gian, giới thiệu sản phẩm địa phương, tạo nên sức hút mới cho điểm đến. Nhưng điều đáng lo là khi sân khấu hóa vượt quá giới hạn cần thiết. Lúc đó, lễ hội sẽ bị kéo khỏi nền tảng văn hóa cộng đồng để trở thành một “sản phẩm biểu diễn” thuần túy. Khi nghi lễ bị rút ngắn để nhường chỗ cho chương trình hoành tráng; khi cộng đồng bản địa không còn là chủ thể mà chỉ đứng bên lề; khi âm thanh, ánh sáng, màn hình, hiệu ứng lấn át ký ức, tín ngưỡng và chiều sâu biểu tượng, thì lễ hội rất dễ mất hồn. Mất hồn cốt không phải vì có công nghệ, mà vì đánh mất trật tự giá trị: Coi phần trình diễn là trung tâm, còn phần văn hóa gốc chỉ là cái cớ. Theo tôi, nguyên tắc cân bằng phải rất rõ. Thứ nhất, phần lõi nghi lễ, tín ngưỡng, tập quán và ký ức cộng đồng không được tùy tiện cải biên. Thứ hai, mọi hình thức sáng tạo mới chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ diễn giải, không thay thế bản thể lễ hội. Thứ ba, cộng đồng địa phương phải là chủ thể quyết định nhịp điệu văn hóa của lễ hội. Công nghệ nên làm cho lễ hội dễ hiểu hơn, đẹp hơn, an toàn hơn, chứ không được biến lễ hội thành một sân khấu xa lạ với chính cộng đồng đã sinh ra nó. Khi giữ được nguyên tắc ấy, chúng ta sẽ không đối lập truyền thống với hiện đại, mà làm cho hiện đại phục vụ truyền thống một cách văn minh. Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Báo cáo chính trị Đại hội XIV đã chuyển nhận thức từ bảo tồn thuần túy sang phát triển kinh tế di sản, coi lễ hội là nguồn tài nguyên tạo nên chuỗi giá trị kinh tế. Theo ông, “kinh tế di sản” nhìn từ các lễ hội đã thực sự hình thành hay chưa? - Có thể nói là chúng ta đã bắt đầu bước vào quỹ đạo của “kinh tế di sản”, nhưng mới ở giai đoạn mở đầu, chưa thật sự hình thành một mô hình trưởng thành, đồng bộ và bền vững. Thực tế, ở nhiều nơi, lễ hội đã không còn chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng đơn lẻ. Nó đã kéo theo chuỗi dịch vụ lưu trú, ẩm thực, vận chuyển, sản phẩm thủ công, quà tặng văn hóa, trình diễn dân gian, OCOP, trải nghiệm điểm đến. Tuy nhiên, nói “kinh tế di sản thực sự” thì tôi nghĩ chúng ta vẫn còn thiếu ít nhất ba điều. Một là thiếu hệ thống định giá và đo lường rõ ràng để biết di sản đóng góp đến đâu trong chuỗi giá trị địa phương. Hai là thiếu cơ chế phân phối lợi ích minh bạch, để cộng đồng - chủ thể sáng tạo và gìn giữ di sản - được hưởng phần xứng đáng. Ba là thiếu tư duy quản trị dài hạn, nên nhiều nơi mới dừng ở khai thác dòng khách, chứ chưa xây được hệ sinh thái sản phẩm văn hóa có chiều sâu. Không gian văn hóa chân thực Để lễ hội vận hành hiệu quả như nguồn tài nguyên kinh tế di sản bền vững, ông có đề xuất cơ chế phối hợp nào giữa chính quyền địa phương mô hình hai cấp, cộng đồng, doanh nghiệp và giới nghiên cứu? - Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp mà Nghị quyết 80 đã nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thiết chế văn hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động ở cơ sở, cấp chính quyền địa phương phải đóng vai trò kiến tạo thể chế, ban hành quy chế quản lý, kiểm soát không gian lễ hội, tiêu chuẩn dịch vụ, an ninh, môi trường, giá cả. Nhưng chính quyền không nên làm thay cộng đồng. Cộng đồng cư dân, các cụm dân cư, dòng họ, người thực hành nghi lễ, các nghệ nhân mới phải là chủ thể văn hóa của lễ hội. Họ cần có tiếng nói thực chất trong việc bảo vệ nghi thức, nhịp điệu và giới hạn thiêng của lễ hội. Doanh nghiệp thì nên được xem là đối tác phát triển, không phải là người “mua quyền khai thác” lễ hội. Họ có thể đầu tư vào hạ tầng mềm, dịch vụ, truyền thông, công nghệ số, sản phẩm trải nghiệm, nhưng phải hoạt động trong một khung quy chuẩn do địa phương và cộng đồng đồng thuận. Còn giới nghiên cứu cần làm một việc rất quan trọng: Lập hồ sơ tri thức cho từng lễ hội, nhận diện phần lõi bất khả xâm phạm, tham gia tư vấn quy hoạch không gian lễ hội, đánh giá sức chịu tải văn hóa và môi trường, cũng như hỗ trợ định giá giá trị kinh tế - xã hội của di sản. Đồng thời, cần có cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch: Một phần nguồn thu phải được tái đầu tư cho bảo tồn, cho đào tạo truyền dạy, cho phúc lợi cộng đồng địa phương. Khi người dân thấy họ không chỉ là người phục vụ du khách, mà là người giữ hồn và cũng được hưởng lợi công bằng từ di sản của mình, thì lễ hội mới có nền tảng bền vững thật sự. Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa và du lịch thông minh, xanh, sạch ngày càng được nhấn mạnh, theo ông cần làm gì để xây dựng thương hiệu điểm đến Việt Nam gắn với giá trị văn hóa chân thực của lễ hội? - Muốn xây dựng thương hiệu điểm đến Việt Nam từ lễ hội, chúng ta phải bắt đầu từ chữ “thật”. Thật trong câu chuyện văn hóa, thật trong trải nghiệm cộng đồng, thật trong không gian sống của di sản. Theo tôi, cần làm đồng thời mấy việc: Trước hết, phải chuẩn hóa bản sắc cho từng lễ hội: Lễ hội ấy kể câu chuyện gì, đại diện cho vùng đất nào, mang giá trị nào không thể thay thế. Trên nền đó mới thiết kế sản phẩm du lịch trải nghiệm: Đi cùng nghệ nhân, học một nghi thức, nghe một tích xưa, nếmmột món ăn gốc, tham gia một trò chơi dân gian, khám phá một làng nghề. Cùng với đó, phải xanh hóa tổ chức lễ hội: Giảm nhựa dùng một lần, kiểm soát rác thải, tổ chức giao thông thông minh, số hóa hướng dẫn và vé, công khai chuỗi dịch vụ văn minh. Phải kiên quyết loại bỏ những biểu hiện thương mại hóa phản cảm: Chèo kéo, đổi tiền lẻ, mê tín vụ lợi, bày bán lộn xộn trong không gian thiêng. Thương hiệu điểm đến mạnh không đến từ sự ồn ào nhất thời, mà đến từ cảm giác tin cậy và rung động mà du khách mang về. Khi lễ hội Việt Nam vừa đẹp, vừa sạch, vừa sâu, vừa thật, vừa văn minh mà vẫn giữ được tính cộng đồng và tính thiêng, lúc đó nó không chỉ là sản phẩm du lịch, mà là một biểu tượng mềm của quốc gia trong thời đại mới. n nhiêu thì vừa? Chúng ta đã tiến một bước dài trong quản lý, nhưng để xây dựng một môi trường lễ hội thực sự văn minh, bền vững, có chiều sâu văn hóa, thì vẫn cần sự kiên trì rất lớn, cả trong nhận thức lẫn trong thực hành quản trị. PGS.TS Bùi Hoài Sơn NGAYNAY.VN 7 CHUYÊN ĐỀ Số 477 + 478

Sức hút từ dòng chảy lễ hội đầu Xuân Trong 9 ngày Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 (từ ngày 14/2 đến 22/2/2026), thành phố Huế đón hơn 523.000 lượt khách, tăng 245% so với cùng kỳ; trong đó khách quốc tế đạt 249.264 lượt (tăng 219%) và khách nội địa đạt 274.374 lượt (tăng 273%). Doanh thu ước đạt 1.121 tỷ đồng, tăng 350%. Những con số ấn tượng này chính là kết quả của việc khai thác hiệu quả các giá trị lễ hội truyền thống, biến không gian văn hóa thành sản phẩm du lịch sống động, thu hút du khách bởi sự kết hợp hài hòa giữa di sản, trải nghiệm và bản sắc. Lễ hội Đền Huyền Trân diễn ra vào mùng 8 và mùng 9 tháng Giêng âm lịch đã trở thành khúc khai mở mùa Xuân đặc sắc. Lễ hội Đền Huyền Trân nămnay không chỉ là nghi thức dâng hương tưởng niệm vị công chúa hy sinh vì vận mệnh dân tộc, mà còn là cuộc “trở về cội nguồn” đầy cảm xúc. Tiếng chuông Hòa Bình vang vọng từ đỉnh Ngũ Phong như nối dài sợi dây lịch sử từ thời Trần qua thời Nguyễn đến tận hôm nay, nhắc nhớ du khách về một hành trình mở cõi bằng hòa hiếu và tầm nhìn chiến lược của các bậc tiền nhân. Tiếp nối dòng chảy lễ hội đầu xuân là hai hội vật truyền thống, mang đậm tinh thần thượng võ: Hội vật làng Thủ Lễ (Quảng Điền) từ mồng 6 tháng Giêng và Hội vật làng Sình (Phú Mậu) từ mồng 10 tháng Giêng. Từ nghi thức tế lễ trang nghiêm tại đình làng, các sới vật rộn ràng tiếng trống và tiếng reo hò, tái hiện truyền thống “văn võ song toàn” của vùng đất Thuận Hóa xưa – nơi từng là cái nôi của nhiều võ tướng và đô vật xuất sắc. Những hoạt động này không chỉ là sinh hoạt cộng đồng mà còn là thiết chế văn hóa – thể thao góp phần xây dựng con người Huế toàn diện: thanh lịch, trí tuệ, khỏe mạnh và bản lĩnh. Sự đổi mới trong tư duy khai thác lễ hội đã giúp Huế biến tài nguyên văn hoá thành nguồn lực kinh tế trực tiếp. Từ đó, lễ hội không chỉ là sinh hoạt văn hóa, mà còn là không gian giáo dục lịch sử sống động, giúp du khách – từ người dân địa phương đến du khách quốc tế – cảm nhận trực tiếp giá trị cội nguồn, biến chuyến đi thành hành trình trở về với bản sắc dân tộc. Đây chính là minh chứng thực tế nhất cho định hướng xây dựng Huế trở thành đô thị di sản đặc thù trực thuộc Trung ương, nơi kinh tế du lịch không tách rời khỏi dòng chảy văn hóa. của Nghị quyết 80-NQ/TW khi xem văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh và hệ điều tiết cho phát triển bền vững. Ông Hải nhấn mạnh: “Chúng tôi triển khai mô hình “hai lớp giá trị”: lớp lõi là phần nghi lễ truyền thống được bảo vệ nghiêm ngặt theo chuẩn mực di sản; lớp phát huy là không gian sáng tạo văn hóa – du lịch, nơi các công nghệ trình diễn, thiết kế trải nghiệm và truyền thông số được ứng dụng để nâng cao sức hấp dẫn. Điều này giúp lễ hội Huế không bị thương mại hóa theo hướng đơn giản hóa, mà trở thành một sản phẩm văn hóa có chiều sâu. Nghị quyết 80 cũng đặt ra yêu cầu đưa văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực phát triển. Vì vậy, việc nâng tầm lễ hội không chỉ là câu chuyện của ngành văn hóa mà còn gắn với quy hoạch đô thị, phát triển du lịch, kinh tế đêm, công nghiệp văn hóa và đào tạo nguồn nhân lực. Khi bản sắc được xem là lợi thế cạnh tranh và là tiêu chí trong mọi quyết sách phát triển, thì quy mô lễ hội càng lớn, giá trị di sản càng được khẳng định chứ không bị “loãng”. Nâng tầm lễ hội, kiến tạo giá trị bền vững Để nâng tầm các lễ hội truyền thống thành động lực phát triển du lịch bền vững, đồng thời bảo vệ bản sắc văn hóa Cố đô, thành phố Huế đang triển khai những chiến lược quản lý sáng tạo, lấy văn hóa làm nền tảng nội sinh theo tinh thần các nghị quyết của Đảng. Trao đổi với phóng viên Ngày Nay, TS. Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Huế cho biết: “Nghị quyết 54-NQ/TW đã xác định rất rõ: xây dựng Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế trực thuộc Trung ương) trên nền tảng bảo tồn và phát huy giá trị di sản Cố đô và bản sắc văn hóa Huế. Vì vậy, trong quản lý lễ hội, chúng tôi quán triệt nguyên tắc bảo tồn là cốt lõi, phát huy là động lực phát triển, đúng với tinh thần Dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Huế đã chứng kiến một mùa Xuân rực rỡ với sự bùng nổ du lịch và sức sống mãnh liệt của các lễ hội truyền thống. Những con số tăng trưởng kỷ lục không chỉ khẳng định sức hút của vùng đất di sản, mà còn làm nổi bật vai trò then chốt của tài nguyên lễ hội trong chiến lược phát triển du lịch bền vững. NGỌC PHẠM Lễ hội Đền Huyền Trân - Xuân Bính Ngọ 2026 tại Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, thành phố Huế. “Khi bản sắc được xem là lợi thế cạnh tranh” NGAYNAY.VN 8 Số 477 + 478 CHUYÊN ĐỀ

Lễ hội, với nhịp điệu chậm rãi, chuẩn mực và giàu tính cộng đồng, chính là một “không gian giáo dục mềm” để người trẻ học cách sống sâu, sống đẹp và sống có trách nhiệm. Khi người trẻ nhận ra trong lễ hội có hệ mỹ học, có phong cách sống và có niềm tự hào về bản sắc Việt, thì sự đồng điệu sẽ đến một cách tự nhiên và bền vững. TS. Phan Thanh Hải Là biểu tượng của “lối sống Cố đô”, các lễ hội truyền thống tại Huế mang tính chậm rãi, cung đình và mẫu mực. Trong nhịp sống hiện đại, Sở Văn hóa và Thể thao đã và đang thực hiện những bước đi thiết thực để các lễ hội này kết nối sâu sắc với thế hệ trẻ, giúp họ thực sự tự hào về hệ mỹ học và giá trị văn hóa riêng biệt của người Việt. Theo TS. Phan Thanh Hải, “Tinh thần của Nghị quyết 80NQ/TW là phát triển con người Việt Nam toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước. Với Huế, điều này được cụ thể hóa bằng việc đưa hệ giá trị văn hóa Huế trở thành nền tảng cho giáo dục thẩm mỹ và hình thành bản lĩnh của thế hệ trẻ. Chúng tôi không đặt vấn đề “hiện đại hóa lễ hội” theo nghĩa làm khác đi truyền thống, mà là tạo điều kiện để người trẻ trở thành chủ thể sáng tạo trong không gian di sản. Khi họ tham gia vào các hoạt động thiết kế, biểu diễn, truyền thông số, khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, thì lễ hội không còn là một sự kiện mang tính trình diễn mà trở thành môi trường để họ khẳng định bản sắc và năng lực. Nghị quyết 54 cũng nhấn mạnh mục tiêu xây dựng Huế trở thành trung tâm lớn về văn hóa, du lịch đặc sắc của cả nước và khu vực. Muốn vậy, nguồn lực con người – đặc biệt là thế hệ trẻ – phải được nuôi dưỡng trong chính môi trường văn hóa Huế. Lễ hội, với nhịp điệu chậm rãi, chuẩn mực và giàu tính cộng đồng, chính là một “không gian giáo dục mềm” để người trẻ học cách sống sâu, sống đẹp và sống có trách nhiệm. Khi người trẻ nhận ra trong lễ hội có hệ mỹ học, có phong cách sống và có niềm tự hào về bản sắc Việt, thì sự đồng điệu sẽ đến một cách tự nhiên”. Cũng theo TS. Phan Thanh Hải, thành phố Huế hướng đến mô hình “đô thị lễ hội”, nơi các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực, trình diễn di sản diễn ra quanh năm trong một hệ sinh thái liên hoàn. “Nghị quyết 80 yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa và đưa văn hóa trở thành sức mạnh mềm quốc gia. Với Huế, điều này được cụ thể hóa bằng việc “kích hoạt” di sản trong đời sống thường nhật: từ không gian Đại Nội, trục cảnh quan sông Hương, các khu phố lịch sử như Kim Long, Gia Hội, Bao Vinh đến vùng đầm phá và biển Thuận An, mỗi nơi đều có thể trở thành một không gian trải nghiệm mang sắc thái lễ hội. Song song với đó là phát triển kinh tế đêm, nghệ thuật trình diễn thực cảnh, hệ thống bảo tàng sống, làng nghề và ẩm thực Huế như những “lễ hội thường nhật”. Khi di sản vận hành liên tục trong đời sống, lễ hội không còn là một thời điểmmà trở thành trạng thái văn hóa”. “Kỳ vọng của chúng tôi là xây dựng Huế thành một thành phố mà ở đó văn hóa hiện diện trong từng khoảnh khắc, đúng với tinh thần Nghị quyết 80: văn hóa soi đường cho quốc dân đi, và là nguồn lực nội sinh để Huế phát triển nhanh nhưng bền vững, giàu bản sắc trong tiến trình hội nhập. Với những định hướng rõ ràng từ quản lý nhà nước, kết hợp sức sống dồi dào của cộng đồng và sức hút ngày càng mạnh mẽ từ du khách, Huế đang vững bước trên hành trình biến lễ hội thành nguồn lực vàng cho du lịch. Mùa xuân Bính Ngọ 2026 chỉ là khởi đầu rực rỡ; phía trước là cả một tương lai nơi bản sắc văn hóa Huế không ngừng tỏa sáng, góp phần khẳng định vị thế của một đô thị di sản hàng đầu khu vực”, TS Phan Thanh Hải khẳng định. n Rộn ràng Hội vật làng Thủ Lễ dịp Xuân Bính Ngọ 2026. Rộn ràng Hội vật làng Thủ Lễ dịp Xuân Bính Ngọ 2026. NGAYNAY.VN 9 CHUYÊN ĐỀ Số 477 + 478

“Mỏ vàng” văn hóa Sự chuyển dịch của ngành du lịch từ “tham quan” sang “trải nghiệm” cho thấy sự thay đổi căn bản nhu cầu của du khách. Nếu trước đây, du khách chỉ đến để ngắm cảnh, chụp ảnh, thì nay họ tìm kiếm những trải nghiệm mang tính bản sắc, nơi họ có thể “chạm” vào đời sống văn hóa bản địa. Và lễ hội chính là không gian hội tụ đầy đủ những yếu tố đó. Theo thống kê, năm 2025, Ninh Bình đón hơn 19,4 triệu lượt khách, doanh thu đạt trên 21.200 tỷ đồng; năm 2026 đặt mục tiêu vượt mốc 20 triệu lượt khách. Bên cạnh cảnh quan thiên nhiên, Ninh Bình sở hữu hệ thống lễ hội gắn với chiều sâu lịch sử của vùng đất cố đô Hoa Lư, nơi từng là kinh đô của nhà nước Đại Cồ Việt thế kỷ X. Nổi bật là Lễ hội Hoa Lư, tổ chức vào tháng ba âm lịch hàng năm nhằm tôn vinh vị anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh, người sáng lập nhà nước Đại Cồ Việt. Lễ hội bao gồm nhiều nghi lễ truyền thống như rước kiệu, tế lễ, diễn xướng dân gian và các trò chơi cổ truyền. Hay Lễ hội Tràng An cũng thu hút đông đảo du khách nhờ sự kết hợp giữa tín ngưỡng thờ thần Quý Minh Đại Vương và không gian thiên nhiên kỳ vĩ của Quần thể danh thắng Tràng An. Ngoài ra còn có lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền củng cố, gắn kết mối quan hệ liên làng (kết chạ) qua nhiều thế hệ. Bên cạnh đó, đền Bà Chúa Kho cũng là điểm đến thu hút đông đảo du khách mỗi dịp đầu năm. Với niềm tin “sở cầu như ý”, du khách tìm về đây không chỉ để cầu tài lộc, bình an mà còn để tham gia vào không gian lễ hội giàu bản sắc. Các nghi lễ như dâng hương, đọc chúc văn, phát lộc… được tổ chức trang nghiêm, kết hợp với các hoạt động văn hóa – nghệ thuật và không gian giới thiệu làng nghề truyền thống, tạo nên một bức tranh lễ hội vừa linh thiêng, vừa sống động. Hay lễ hội rước pháo Đồng Kỵ được diễn ra vào đầu tháng tháng Giêng hàng năm, gắn liền với sự tích về Đức thánh Thiên Cương ra quân đánh giặc Xích Quỷ. Với nghi thức tái hiện truyền thống chống giặc ngoại xâm, lễ hội đã góp phần khắc họa chiều sâu lịch sử, giúp du khách hiểu rõ hơn về cội nguồn văn hóa của địa phương. Cùng với đó, Bắc Ninh còn nổi tiếng với một số lễ hội khác như lễ hội đền Đô, hội chùa Phật tích, hội đền Diềm… Khác với nhiều loại hình du lịch khác, lễ hội mang đến cho du khách cảm giác “hòa nhập”. “Cốt lõi của lễ Thái Vi, lễ hội đền Trần – Thương… tạo nên bức tranh văn hóa lễ hội đa dạng trải dài khắp các vùng của tỉnh. Không chỉ riêng Ninh Bình, Bắc Ninh được xem là kho tàng lễ hội của cả nước với hơn 1.300 lễ hội mỗi năm, trong đó trên 400 lễ hội diễn ra vào mùa xuân. Đây là một trong những địa phương có mật độ lễ hội dày đặc nhất cả nước. Tiêu biểu là Hội Lim - không gian văn hóa của Dân ca Quan họ Bắc Ninh. Tại đây, du khách không chỉ thưởng thức làn điệu Quan họ mà còn trực tiếp tham gia vào các hình thức hát đối đáp, giao lưu tại đình, chùa hay trên thuyền, qua đó cảm nhận rõ nét tinh thần văn hóa Kinh Bắc. Trong không gian lễ hội, các tập quán, lễ nghi, bí quyết truyền thống liên quan đến quan họ như tục kết chạ, mời trầu, mời nước, giao tiếp quan họ... đều được thực hành liên tục, tạo nên sự sống động cho di sản. Quan họ ở hội Lim thể hiện nét đẹp ứng xử văn hóa, chuẩn mực trong giao tiếp của người Kinh Bắc và giữ vai trò như một nhịp cầu kết nối văn hóa, Lễ hội - Nguồn lực cho phát triển Hệ thống lễ hội dày đặc trên các vùng miền không chỉ phản ánh đời sống tín ngưỡng phong phú của người Việt mà còn trở thành nguồn lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. NGỌC ÁNH Lễ hội Hoa Lư là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, một trong những lễ hội lớn nhất Ninh Bình. Tôi mong “Tết Việt” thực sự trở thành một lễ hội truyền thống của phố cổ, một di sản phi vật thể đương đại. KTS Trịnh Văn Khuê Hội Lim được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia. NGAYNAY.VN 10 Số 477 + 478 CHUYÊN ĐỀ

RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==