Nhìn lại chặng đường 80 năm, có thể thấy rõ sự cộng hưởng sâu sắc giữa Cách mạngthángTámvàdòngchảy văn học. Văn chương là tấm gương phản chiếu thời đại, đồng thời là vũ khí sắc bén, là tiếng nói của khát vọng tự do và ý chí dân tộc. Theo TS. Trần Hạnh Mai (giảng viên khoa Ngữ Văn, Đại học Sư Phạm Hà Nội), Cáchmạng thángTámđã tác độngmạnhmẽ đến ý thức sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ, đánh thức tiềm năng văn chương trong quần chúng, khơi dậy tinh thần yêu nước và ý thức công dân, từ đó định hình một dòng văn học cách mạng đầy sức sống. Chính tinh thần ấy đã thổi hồn vào các tác phẩmvăn học, tạo nên một dòng chảy văn chương mới, mang tính chiến đấu và giàu lý tưởng cáchmạng. Văn học cách mạng trước năm 1945 Từ đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam vận động theo hướng hiện đại hóa, chuyển mình từ văn học trung đại sang văn học hiện đại hiện đại.TS.TrầnHạnhMai chobiết, văn học cách mạng trong giai đoạn này chủ yếu được nhìn nhận như là vũ khí tư tưởng của cách mạng, phục vụ cho mục tiêu, đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và truyền bá lý tưởng. Tinh thầnấyđượcChủ tịch HồChíMinhcăndặn:“Vănhóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anhchị emlàchiếnsĩ trên mặt trận ấy” (Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm Hội họa), đó là chân lý hiển nhiên về vị trí của văn học nghệ thuật và vai trò của người nghệ sĩ trong thời đại cáchmạng. Nền văn học cách mạng đã sản sinh và đào luyện nên một đội ngũ nhà văn - chiến sĩ đáng tự hào, có thể kể đến như Tố Hữu, Học Phi, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng, Nam Cao... Đặc biệt, Tổng Bí thư Trường Chinh - nhà lãnh đạo kiệt xuất, ngoài hoạt động chính trị, ông còn là nhà báo, nhà thơ lớn với bút danh Sóng Hồng. Trong lời tựa “Cùng bạn đọc”, ông viết: “Những bài thơ tôi làm cốt để phục vụ tuyên truyền cách mạng hoặc để ghi lại một số tình cảm sâu sắc của đời mình”. Với ông, thơ và cách mạng không tách rời, mà cùng hướng đến lý tưởng giải phóng giai cấp và dân tộc. Thơ ca trở thành tiếng nói của cách mạng, là phương tiện kết nối, khích lệ tinh thần yêu nước và đấu tranh, có thể thấy ở nhiều tác phẩm như: “Từ ấy” của Tố Hữu, tập “Thơ thơ” của Sóng Hồng, và sau này là thơ của Bác Hồ khi Người về nước năm 1941 với những vần thơ giản dị mà sâu sắc như “Hòn đá to, hòn đá nặng”… đều là minh chứng sống động cho sự phát triển của văn học cách mạng Việt Nam trước năm 1945. Dù đôi khi phải hoạt động trong bóng tối do bị thực dân đàn áp, dòng văn học này vẫn âm thầm lan tỏa, chứng tỏ vai trò bền vững và to lớn trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Cách mạng trong dòng chảy văn học “Cách mạng tháng Tám là sự kiện to lớn của dân tộc đã mở ra những chủ đề mới, nội dung mới, nhân vật mới và giọng điệu mới trong văn học. Sự thay đổi này không diễn ra ngay lập tức mà là cả một quá trình dài trong dòng chảy văn học”, TS. Trần Hạnh Mai cho biết. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là đỉnh cao của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và ý chí quật cường của toàn thểnhândân. Sựkiện lịch sử này mở ra một không gian cảm hứng mới, đặt nền móng cho dòng văn học mang đậm chất sử thi – nền văn học của chủ nghĩa yêu nước, của cộng đồng và lý tưởng chung Văn học giai đoạn 1945– 1975 mang đậm khuynh hướng sử thi, đòi hỏi người cầm bút không nhìn con người và cuộc đời bằng con mắt của cá nhânmà bằng tầm bao quát của lịch sử, của dân tộc và thời đại. Nếu trước đó, văn học thường xoay quanh những số phận đơn lẻ, những ÁNH NGỌC Từ ngọn lửa cách mạng Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Không chỉ mở ra một kỷ nguyên độc lập, tự do, thắng lợi này còn tạo nên những chuyển biến sâu sắc trong đời sống tinh thần, văn hóa và đặc biệt là văn học Việt Nam. Các vănnghệ sĩ trongkháng chiến chốngPhápởThái Nguyên. Bài thơ “Hònđá” phụđề tranh cổđộng của NguyễnÁi Quốc, đăng trênbáo Việt Namđộc lập số123, ngày 21/4/1942. Cáchmạng tháng Tám đãmở ramột chặng đường mới cho văn học Việt Nam, nơi văn chương trở thành tiếng nói của quần chúng, phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. TS. Trần Hạnh Mai NGAYNAY.VN 34
RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==