thân bình chạm khắc nổi và tô men màu xanh, vàng diễn tả các trích đoạn trong “Tam Quốc Chí”. Minh văn viết bằng men lam minh họa bức tranh vẽ trên thân bình: “Hứa Chử cởi áo đấu võ với Mã Siêu”. Trên loại bình và nậm rượu gốm Bát Tràng còn tìm thấy chạm nổi, vẽ men vàng và xanh, đề tài “Đạp tuyết tầm mai” với cảnh một người đội mũ cánh chuồn, mình mặc áo thụng cưỡi ngựa đi trước, theo sau là một tiểu đồng vác cành hoa mai. Thời kỳ “bùng nổ” trên các chất liệu đa dạng Ngoài các chất liệu gốm và đồng, hình tượng ngựa còn được thể hiện trên đa dạng phong cách khác nhau. Ông có thể giới thiệu một số ví dụ điển hình? - Hình tượng ngựa còn được thể hiện dưới dạng bia, phù điêu trên đá hoặc ngọc một cách hết sức tinh xảo, sắc nét. Tại chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), hình tượng ngựa được thể hiện dưới dạng phù điêu trên lan can đá vào năm 1674, với nét chạm khắc tinh xảo làm toát lên tính nết nhanh nhẹn của loài ngựa. Trong ô chữ nhật chạm nổi hai con ngựa như diễn tả một câu chuyện nào đó về đôi ngựa trong tư thế rượt đuổi nhau, con chạy trước đầu ngoảnh lại. Hay như tại chùa Linh Quang (Hải Phòng), hình tượng ngựa được chạm nổi trên bia chùa, với đầy đủ bộ yên cương lộng lẫy đang bước đi giữa hoa lá. Hình tượng ngựa đá vào thời Lê sơ vào thế kỷ XV, cũng xuất hiện dưới dạng tròn khá nổi bật, như pho tượng ngựa được lưu giữ ở Bảo tàng Thanh Hoá hiện nay. Tượng có độ cao chừng 70cm, đứng trên bệ chữ nhật, lưng chạm nổi yên cương hai lớp, chân trước và sau chạm văn mây. Ở thời Lê Trịnh cũng xuất hiện các cặp tượng ngựa có kích thước lớn, làm nhiệm vụ “đứng chầu” văn hoá Việt trong các Lăng Quận công tại Thanh Hoá. Chẳng hạn như, pho tượng ngựa cao 1,78 m tại Lăng Quận Nghi, Nguyễn Văn Nghi tạc năm 1621, hay pho tượng ngựa đá cao 1,58 m – 1,67 m tại Lăng Quận Mãn, Lê Trung Nghĩa tạc năm 1786. Những tượng ngựa này đều được chạm từ nguyên khối đá màu ghi xám, đứng trên bệ chữ nhật, đầu ngẩng cao, hai chân trước đứng thẳng, cổ đeo vòng quả nhạc, bờm có dải tua, lưng chạm bộ yên hình vòng cung, đuôi dài phủ kín hông. Trong sưu tập cổ ngọc Việt Nam vào thế kỷ XIX, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia có bộ tượng đá ngọc mô tả hình ngựa ở hàng thứ bảy trong mười hai con giáp, cao khoảng 5,2 cm – 5,5 cm, với cách thể hiện khá độc đáo do lối tạo hình nhân cách hóa. Bên cạnh đó, bộ sưu tập còn có pho tượng đá ngọc màu trắng xanh, độ cao khoảng 8,7 cm và dài 14,6 cm. Pho tượng mô tả con ngựa phi bức chạm “Bát mã quần phi” trên ván nong, phía dưới của hàng cột cái và cột quân ở đình Đình Bảng (Bắc Ninh), được tạo tác trong khoảng từ năm 1700 – 1736. Bằng kỹ thuật chạm bong kênh, chạm lộng, chạm moi… các nghệ nhân đã tạo nên những hình tượng ngựa mang vẻ hồn hậu, gần gũi trong hình dáng và tư thế quen thuộc, đầy đủ yên cương lục lạc, mang ước vọng yên bình của người làng quê trong xã hội phong kiến Việt Nam. Hình tượng ngựa cũng tìm thấy trên nhiều loại tranh giấy, tranh thờ tại Việt Nam. Tại đền Độc Lôi (Nghệ An), bức tranh thờ “Ngựa hồng, Ngựa bạch” được in vẽ các màu đen, trắng, đỏ trên loại tranh giấy thế kỷ XVIII, có chiều dài 1, 47 m và rộng 0,55 m. Tác phẩm đặc tả cảnh người dắt ngựa, người vác lọng, qua đó phản ánh đời sống tâm linh, tín ngưỡng của cư dân thời kỳ này, và hiện đang được lưu giữ trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Với dòng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), bức tranh “Vinh quy bái tổ” được khắc in trên giấy điệp, mô tả một vị tân khoa, đầu đội mũ cánh chuồn, mặc áo thụng cưỡi ngựa đi giữa những người cầm cờ, lọng và biển Tiến sỹ. Bức tranh góp phần lưu giữ và truyền tải giá trị đạo đức, tinh thần và đề cao truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam. Có thể thấy, hình tượng ngựa được mô tả trên đa dạng các loại hình hiện vật với nhiều chất liệu khác nhau, trải qua nhiều thời đại trong lịch sử Việt Nam. Trên đây chỉ là những ví dụ chọn lọc, nhưng từng đó cũng đã đủ minh chứng cho tư duy sáng tạo và bàn tay tài khéo của các thế hệ nghệ nhân, để lại trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam. Có lẽ hình tượng ngựa trong dòng chảy mỹ thuật cổ Việt Nam cũng hóa thân vào huyền thoại, và ít nhiều mang màu sắc tôn giáo như con ngựa trong văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc hay tín ngưỡng phương Tây. Xin cảm ơn ông về những chia sẻ trên! Hình tượng ngựa trên chiếc bình gốmBát Tràng men rạnngà từ thế kỷ XIX. NGỰA Hình tượngngựađược chạmtrổ trênkiến trúc gỗ tại đìnhThổTang (PhúThọ). trên sóng là tác phẩm tạo hình tinh tế của nghệ nhân ngự xưởng Cung đình Huế. Có thể thấy hình tượng ngựa còn xuất hiện trong kiến trúc đình chùa và tranh dân gian. Theo ông, những tác phẩm này gửi gắm thông điệp gì về tâm hồn và ước vọng của người Việt? - Đến thế kỷ XVII – XVIII, hình tượng ngựa được chạm trổ trên kiến trúc gỗ đình chùa “nở rộ chưa từng thấy”. Hình tượng ngựa có thể được bắt gặp trong những hoạt cảnh sinh hoạt sống động của làng xã tại đình Thổ Tang (Phú Thọ); cảnh đi săn ở đình Hạ Hiệp (Hà Nội), đình Hương Canh (Phú Thọ); cảnh đám rước ở đình Hạ Hiệp, đình Đại Phùng, đình Phú Xuyên (Hà Nội); cảnh vinh quy ở đình Ngọc Canh (Phú Thọ); hay cảnh hai kỵ binh cưỡi ngựa ở đình Liên Hiệp (Phú Thọ). Đáng chú ý phải kể đến NGAYNAY.VN 35 VĂN HÓA Xuân Bính Ngọ 2026
RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==