Ngày Nay số 466-476

Di sản của ký ức làng quê Việt Ngày 9/12/2025, tại Kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, diễn ra tại Thủ đô New Delhi (Ấn Độ), nghề làm tranh dân gian Đông Hồ chính thức được ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là di sản thứ 17 của Việt Nam được UNESCO ghi danh, đồng thời là lời nhắc nhở rõ ràng về trách nhiệm bảo tồn, hồi sinh và đưa di sản trở lại đời sống đương đại. Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ ra đời cách đây khoảng 500 năm tại phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Qua nhiều thế kỷ, cộng đồng làng nghề đã sáng tạo nên một dòng tranh mang bản sắc riêng biệt, từ chủ đề, bố cục đến kỹ thuật in khắc gỗ và bảng màu tự nhiên. Tranh Đông Hồ gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người Việt, đặc biệt trong các dịp lễ tiết quan trọng như Tết Nguyên đán, Tết Trung thu, các nghi lễ thờ cúng tổ tiên và thần linh. Những bức tranh như Đám cưới chuột, Vinh quy bái tổ, Hội đu, Bịt mắt bắt dê… không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn hàm chứa triết lý dân gian, khát vọng về cuộc sống no đủ, yên vui và đạo lý làm người. Toàn bộ quy trình làm tranh đều được thực hiện thủ công. Mẫu tranh được vẽ bằng bút lông, mực nho trên giấy bản, sau đó khắc trên ván gỗ thị. Màu sắc được chế biến từ nguyên liệu hoàn toàn tự nhiên: Màu xanh từ lá chàm, màu đỏ từ sỏi son, màu vàng từ hoa hòe và quả dành dành, màu trắng từ bột sò điệp phong hóa, màu đen từ tro lá tre, rơm nếp. Tranh được in úp ván với năm màu cơ bản trên giấy dó phủ hồ điệp, theo trình tự nghiêm ngặt: Đỏ, xanh, vàng, trắng, cuối cùng là ván nét màu đen để hoàn thiện. Chính sự cầu kỳ, tinh tế ấy đã tạo nên giá trị độc đáo của tranh Đông Hồ, nhưng cũng khiến nghề ngày càng khó duy trì trong bối cảnh hiện đại. Theo hồ sơ UNESCO, hiện chỉ còn vài hộ gia đình tiếp tục giữ nghề, tri thức và kỹ năng chủ yếu được truyền dạy trong phạm vi gia đình, trong khi thế hệ trẻ ít mặn mà theo đuổi do nghề khó đảm bảo sinh kế. Kể chuyện sáng tạo về truyền thống Xuất phát từ trăn trở trước nguy cơ mai một của tranh Đông Hồ, một nhóm sinh viên Học viện Ngoại giao đã khởi xướng dự án “Thức cùng di sản” với “Xiếc họa Đông Hồ” là chặng mở đầu. “Thức cùng di sản” được định hướng là một dự án dài hơi, nhằm làm sống lại các giá trị di sản văn hóa truyền thống qua ngôn ngữ nghệ thuật đương đại, để đưa di sản đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Ý tưởng kết hợp tranh dân gian Đông Hồ với nghệ thuật xiếc của nhóm xuất phát từ một trăn trở rất đời thường: Tranh Đông Hồ là di sản quen được biểu đạt bằng ngôn ngữ cơ thể”, Tất Đạt cho biết. Đặc biệt, trong nghệ thuật xiếc cũng xuất hiện những hình tượng con vật, vốn là yếu tố rất quen thuộc trong tranh Đông Hồ nên việc tái hiện tinh thần của tranh trên sân khấu trở nên gần gũi, tự nhiên và dễ cảm thụ hơn. Bên cạnh sự tương đồng đó, việc kết hợp giữa Đông Hồ và xiếc còn tạo ra một hiệu ứng thị giác độc đáo: Một bên là nét vẽ mộc mạc, dân gian; Một bên là những chuyển động mạnh mẽ, hiện đại. Tất Đạt chia sẻ, ban đầu nhóm cũng từng tự đặt câu hỏi về tính khả thi của sự kết hợp này song quan sát trong những năm gần đây, khi Liên đoàn Xiếc Việt Nam không ngừng thử nghiệm những cách kể chuyện mới, nhóm tin rằng việc đưa tranh Đông Hồ lên sân khấu xiếc không phải là điều không thể. Tuy nhiên để thực hiện điều đó, nhóm gặp không ít thách thức khi chuyển tải tư tưởng của tranh Đông Hồ vốn sâu sắc và tinh tế, cần được giải thích bằng lời sang một loại hình kể chuyện hoàn toàn bằng hình thể. Với xiếc, mỗi động tác không chỉ đòi hỏi độ chính xác, tính thẩm mỹ và an toàn kỹ thuật, mà giờ đây còn phải “đúng tinh thần” của bức thuộc trong ký ức tập thể nhưng ngày càng vắng bóng trong đời sống hiện đại. Nhiều người nhận diện được hình ảnh như Đám cưới chuột, Hội đu, Vinh quy bái tổ… nhưng rất ít người có cơ hội hiểu sâu về những lớp nghĩa, triết lý sống và tư duy xã hội ẩn sau từng bức tranh. Lựa chọn nghệ thuật xiếc để kết hợp với tranh Đông Hồ không phải ngẫu nhiên. Điểm chạm giữa tranh Đông Hồ và nghệ thuật xiếc chính là ở khả năng kể chuyện về đời sống, con người. Theo Nguyễn Tất Đạt, sinh viên năm thứ ba Học viện Ngoại giao, Trưởng Ban Tổ chức dự án, tranh Đông Hồ tuy là tranh tĩnh nhưng nội dung bên trong lại rất “động”. Mỗi bức tranh đều ghi lại những lát cắt sinh động của đời sống xã hội xưa, từ sinh hoạt thường ngày, tình yêu đôi lứa đến những chuẩn mực ứng xử trong gia đình và cộng đồng với nhiều tầng nghĩa tinh tế. Ở chiều ngược lại, xiếc là loại hình nghệ thuật giàu tính biểu đạt hình thể. “Khi đặt hai yếu tố này cạnh nhau, chúng tôi nhận ra nhiều lớp nghĩa trong tranh Đông Hồ hoàn toàn có thể được chuyển hóa thành chuyển động sân khấu: Sự e ấp, căng thẳng, mâu thuẫn hay gắn bó đều có thể Tranh dân gian Đông Hồ - một phần ký ức văn hóa của làng quê Bắc Bộ đang đứng trước nguy cơ mai một. Sự suy giảm về số lượng người theo nghề, sự thu hẹp không gian sử dụng tranh trong đời sống hiện đại đã khiến nghề làm tranh này rơi vào danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của UNESCO. NGỌC ÁNH Một sốhìnhảnh trongbuổi diễn “Xiếc họaĐôngHồ”. XIẾCHỌA ĐÔNGHỒ Khi đặt hai yếu tố này cạnh nhau, chúng tôi nhận ra nhiều lớp nghĩa trong tranh Đông Hồ hoàn toàn có thể được chuyển hóa thành chuyển động sân khấu: Sự e ấp, căng thẳng, mâu thuẫn hay gắn bó đều có thể được biểu đạt bằng ngôn ngữ cơ thể. Nguyễn Tất Đạt NGAYNAY.VN 36 Xuân Bính Ngọ 2026 VĂN HÓA

RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==