HÀNỘI trước cơ hội đô thị di sản Nền móng cho đô thị di sản Trong khu vực 36 phố phường, người dân vẫn sinh sống, làm nghề, buôn bán và giao tiếp trong những ngôi nhà, những con phố đã được hình thành qua nhiều thế hệ. Chính nhịp sống ấy tạo nên sức hấp dẫn riêng của phố cổ Hà Nội. KTS. Đoàn Kỳ Thanh gọi phố cổ Hà Nội là một bảo tàng chứa đựng các di sản sống. Theo ông, trên thế giới không có nhiều đô thị mà các hoạt động cư trú, sản xuất, làm việc và kinh doanh vẫn cùng tồn tại trong một không gian lịch sử như vậy. Qua thời gian, khả năng thích nghi của người Hà Nội đã hình thành một nếp sống riêng. Nếp sống ấy trở thành một phần giá trị không thể tách rời khỏi cảnh quan và kiến trúc đô thị. Đây cũng là một lợi thế đáng kể khi Hà Nội tiếp cận cơ chế thí điểm mô hình đô thị di sản văn hóa được quy định tại Nghị định số 282/2026/NĐ-CP (NĐ 282). Các tiêu chí lựa chọn địa phương không chỉ dựa trên số lượng di sản đã được công nhận, xếp hạng hoặc ghi danh. Hà Nội hiện có gần 6.000 di tích lịch sử, văn hóa, hàng nghìn di sản văn hóa phi vật thể cùng nhiều di sản được UNESCO ghi danh. Dù vậy, nền móng của một đô thị di sản không chỉ nằm ở những con số thống kê. Những di tích như Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Cổ Loa, hồ Hoàn Kiếm, khu phố cổ, làng cổ Đường Lâm, cùng hệ thống đình, chùa, làng nghề và những không gian ven sông, đã lưu giữ dấu tích về quá trình hình thành và mở rộng của Thăng Long, Đông Đô và Hà Nội qua nhiều thế kỷ. Theo KTS. Trần Huy Ánh, Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội, quy hoạch với tầm nhìn 100 năm của Thủ đô có một điểm tựa đặc biệt khi: “Chúng ta quy hoạch thành phố trăm năm trên nền tảng của một đô thị đã có nghìn năm lịch sử”. Vì thế, tương lai của Hà Nội không thể được kiến tạo từ một khoảng trống. Những trung tâm lịch sử hiện hữu cần trở thành điểm xuất phát trong tổ chức không gian, qua đó làm giàu bản sắc và tạo sức lan tỏa cho các nguồn lực văn hóa trên phạm vi toàn thành phố. Bảo tàng nhân sinh sống động Giữ hình hài một công trình chưa đồng nghĩa với việc bảo tồn đầy đủ giá trị di sản. Kiến trúc có thể vẫn còn, cảnh quan có thể được chỉnh trang, nhưng nếu những sinh hoạt từng gắn với nơi chốn dần biến mất, di sản cũng mất đi một phần sức sống. Đây là bài toán không dễ giải đối với Hà Nội, nơi những lớp lịch sử hiện diện ngay giữa một đô thị vẫn đang từng ngày vận động và thay đổi. KTS. Đoàn Kỳ Thanh nhìn nhận di sản qua ba thành tố “Hình – Lý – Khí”. Trong đó, “Hình” là dáng vẻ, cảnh quan và kiến trúc; “Lý” là chức năng, công năng bên trong hình thể ấy; còn “Khí” được tạo nên từ hoạt động và đời sống của con người. Theo cách nhìn này, được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Trong quá trình đô thị hóa, những ngôi làng ấy trở thành “một bảo tàng nhân sinh sống động”, nơi các giá trị văn hóa không chỉ được nhìn thấy qua kiến trúc hay cảnh quan mà còn được nhận biết từ chính cách con người cư trú và ứng xử với nhau. Nếu chỉ giữ lại một vài công trình tiêu biểu trong khi cấu trúc đời sống xung quanh bị đứt gãy, phần được bảo tồn sẽ khó phản ánh đầy đủ giá trị vốn có của nơi chốn. Bà Nguyễn Thu Thủy, Trưởng khoa Nghệ thuật Thiết kế, Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng một thành phố muốn phát triển cần biết sáng tạo trên chính nền tảng bản sắc văn hóa của mình. Với Hà Nội, điều đó có thể bắt đầu từ việc kết nối không gian công cộng với làng nghề, tạo cơ hội để nghệ nhân gặp gỡ người trẻ và tổ chức các workshop để người tham gia trực tiếp thực hành nghề thủ công. Những ý tưởng như mở rộng mô hình “Đình trong phố” thành “Đình trong phố trường”, “Đình trong phố ga” hay “Đình trong phố chợ” cho thấy di sản hoàn toàn có thể bước vào những không gian mới mà không nhất thiết một không gian có thể vẫn giữ được giá trị của một di tích, nhưng nếu thiếu đi “Khí”, tức là những hoạt động và sinh hoạt của con người, thì rất khó duy trì sức sống vốn có của một di sản. Từ đó, vấn đề bảo tồn cũng cần được nhìn rộng hơn việc giữ lại từng công trình. Điều quan trọng là duy trì được mối quan hệ giữa kiến trúc, công năng, cộng đồng và cảnh quan xung quanh. Đây cũng là hướng tiếp cận được đặt ra trong NĐ 282, khi yêu cầu bảo tồn bao gồm cả không gian văn hóa của cộng đồng thực hành di sản phi vật thể; đồng thời kiểm soát cấu trúc không gian, cảnh quan, mật độ xây dựng, tầng cao, hình thức kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật và các hoạt động dịch vụ trong khu vực di sản. Nhìn vào không gian làng quê Hà Nội, yêu cầu ấy càng trở nên rõ nét. Nhận định về vấn đề này, KTS. Trần Huy Ánh cho rằng mỗi làng trước đây từng là một đơn vị tương đối tự chủ về sinh thái, với hệ thống thiết chế công cộng khá hoàn chỉnh. Ao làng, giếng làng, cổng làng, cây đa cùng mạng lưới xóm ngõ không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thường ngày mà còn là nơi duy trì những mối quan hệ cộng đồng Di sản Hà Nội hiện diện trong hàng ngàn di tích và những nếp sống được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Cơ chế thí điểmmô hình đô thị di sản văn hóa mở ra cơ hội tổ chức lại nguồn lực đặc biệt ấy, gắn bảo tồn với đời sống cộng đồng, sáng tạo và phát triển, để những giá trị của quá khứ tiếp tục tham gia kiến tạo diện mạo Thủ đô hôm nay. VIỆT THÀNH Một thành phố muốn phát triển cần biết sáng tạo trên chính nền tảng bản sắc văn hóa của mình. Với Hà Nội, điều đó có thể bắt đầu từ việc kết nối không gian công cộng với làng nghề, tạo cơ hội để nghệ nhân gặp gỡ người trẻ và tổ chức các workshop để người tham gia trực tiếp thực hành nghề thủ công. Bà Nguyễn Thu Thủy, Trưởng khoa Nghệ thuật Thiết kế, Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật NGAYNAY.VN 16 Số tháng 8/2026 CHUYÊN ĐỀ
RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==