Ngày Nay số 479-480

SỐ479+480 TẠPCHÍ MIỄN PHÍ CƠQUAN NGÔN LUẬN CỦA LIÊN HIỆP CÁC HỘI UNESCOVIỆT NAM ORGAN OF VIETNAM NATIONAL FEDERATION OF ASSOCIATIONS FOR UNESCO THÀNH PHỐ THÔNG MINH: Cuộc đua năng lực điều hành bằng dữ liệu

Khi “đại bàng” không chỉ đến Hai Nghị quyết, một chương mới Trong vòng chưa đầy hai tuần, Hà Nội trở thành điểm đến của hai chuyến thăm đặc biệt quan trọng của hai quốc gia hàng đầu châu Á. Cuối tháng 4/2026, Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung đến Hà Nội trong chuyến thăm cấp Nhà nước kéo dài bốn ngày. Tháp tùng ông là hơn 200 doanh nghiệp Hàn Quốc, trong đó có lãnh đạo cấp cao của Samsung, SK, LG và Hyundai - những tập đoàn hàng đầu khu vực đã và đang định hình phần lớn diện mạo công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc được tổ chức nhân chuyến thăm, 73 thỏa thuận hợp tác (MOU) trong các lĩnh vực như năng lượng, tài chính, công nghệ, điện tử, viễn thông, chế biến, chế tạo, cơ khí, xây dựng, hạ tầng, thương mại, du lịch, hàng không… đã được ký kết. Trong các cuộc gặp cấp cao, Hàn Quốc cũng bày tỏ mong muốn tham gia các dự án điện hạt nhân, đường sắt tốc độ cao của Việt Nam. Không lâu sau, từ ngày 1 tới 3/5, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae đến Hà Nội trong chuyến thăm chính thức đầu tiên của bà tới châu Á kể từ khi tái cử. Tại hội đàm với Thủ tướng Lê Minh Hưng, hai bên không chỉ nhất trí các mục tiêu thương mại và đầu tư đến năm 2030, mà còn nhấn mạnh hợp tác, hỗ trợ Việt Nam tự chủ năng lực công nghệ trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn và vũ trụ… Điều đáng chú ý không chỉ là quy mô của hai sự kiện này mà còn ở các nội dung sự kiện. Cả Hàn Quốc và Nhật Bản đều không còn chỉ nói về đầu tư sản xuất thông thường, mà đặt vấn đề về chuyển giao công nghệ, hỗ trợ Việt Nam leo lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị. Đây chính là thời điểm mà định hướng chính sách từ các Nghị quyết 57 và Nghị quyết 68 gặp được sự hội tụ thực tiễn và thiện chí từ phía đối tác. Hành trình thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam là một trong những câu chuyện đáng tự hào nhất của kinh tế Đông Nam Á trong nửa thế kỷ qua. Từ một nền kinh tế khép kín, Việt Nam đã trở thành một trong những điểm đến FDI hàng đầu thế giới - với những tập đoàn tầm vóc toàn cầu hiện diện trên khắp các khu công nghiệp từ Bắc vào Nam. Theo số liệu từ Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/12/2025 đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước. Đáng chú ý, số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện cả năm ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ và xác lập mức cao tại chủ yếu vẫn ở khâu gia công, lắp ráp - nơi giá trị gia tăng mỏng nhất trong toàn bộ chuỗi. Các phân khúc có hàm lượng công nghệ cao và lợi nhuận lớn hơn - thiết kế, R&D, linh kiện lõi - phần lớn vẫn nằm ngoài biên giới. Mô hình phát triển, thu hút FDI trong vài thập niên qua phù hợp với giai đoạn đất nước cần tạo việc làm, tích lũy kinh nghiệm và hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng để tiến lên mức thu nhập cao và thoát bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần nâng cấp vị trí trong chuỗi đó, và điều này đòi hỏi công nghệ phải thực sự thấm vào nội lực quốc gia, chứ không chỉ tồn tại trong các nhà máy FDI. Tháng 12/2024, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát nhất trong giai đoạn 20212025. Khu vực FDI đóng góp hơn 20% GDP, tạo ra hàng triệu việc làm và đưa Việt Nam vào top 3 thế giới về xuất khẩu dệt may, top 2 về giày dép. Song hành với những con số ấn tượng đó là một bài toán nan giải cần được nhìn nhận thẳng thắn: Sản xuất công nghiệp Việt Nam hiện LÝQUỐC THỊNH Sau nhiều thập niên thu hút FDI bằng lợi thế lao động và sản xuất, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phải trả lời câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để công nghệ thực sự ở lại trong nội lực quốc gia? Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc mạnh mẽ, hai chuyến thăm cấp cao từ Nhật Bản và Hàn Quốc mang tới những tín hiệu cho thấy cơ hội đang đến gần hơn bao giờ hết. Hành trình thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam là một trong những câu chuyện đáng tự hào nhất của kinh tế Đông Nam Á trong nửa thế kỷ qua. Từ một nền kinh tế khép kín, Việt Nam đã trở thành một trong những điểm đến FDI hàng đầu thế giới - với những tập đoàn tầm vóc toàn cầu hiện diện trên khắp các khu công nghiệp từ Bắc vào Nam. Theo số liệu từ Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/12/2025 đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước. NGAYNAY.VN 2 Số 479 + 480 CHUYÊN ĐỀ

để làm tổ triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chỉ ra sự cần thiết của việc làm chủ “công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi”. Tháng 5/2025, Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân bổ sung những giải pháp cụ thể để biến định hướng đó thành hành động: kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa tại các khu công nghiệp, áp dụng tỷ lệ nội địa hóa theo lộ trình và đặt vấn đề đáng lưu tâm: Các dự án FDI lớn phải có kế hoạch sử dụng chuỗi cung ứng nội địa ngay từ giai đoạn phê duyệt. Hai chuyến thăm vừa qua cho thấy định hướng chính sách đó đang được đón nhận tích cực từ phía đối tác. Tại hội đàm Việt Nam - Nhật Bản, Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị khuyến khích doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào các dự án có hàm lượng công nghệ cao, tăng tỷ lệ nội địa hóa và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các dự án đầu tư của Chính phủ Nhật Bản. Tính lũy kế đến hết tháng 3/2026, Hàn Quốc tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất của Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt 98,9 tỷ USD, với 10.447 dự án, chiếm hơn 18% tổng vốn FDI. Theo Bộ Tài chính, dòng vốn FDI Hàn Quốc đang tăng mạnh vào các lĩnh vực chiến lược. Nhà đầu tư lớn nhất trong số đó là Samsung đã thành lập pháp nhân đóng gói chip tại Việt Nam - một bước tiến rõ rệt so với mô hình lắp ráp điện thoại thuần túy trước đây. Hành trình từ lắp ráp đến làm chủ Bối cảnh toàn cầu đang tạo ra cơ hội hiếm có cho chiến lược này. Chuỗi cung ứng thế giới đang tái cấu trúc mạnh mẽ sau đại dịch và những căng thẳng khó lường của tình hình địa chính trị quốc tế. Việc Thủ tướng Takaichi công bố tầm nhìn FOIP 2026 tại Đại học Quốc gia Hà Nội với trọng tâm xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế cho kỷ nguyên AI và dữ liệu, củng cố chuỗi cung ứng năng lượng và vật liệu - và việc bà chọn Hà Nội làm nơi công bố - là minh chứng rõ ràng rằng Việt Nam đang được xem như một trụ cột quan trọng trong cấu trúc chuỗi cung ứng công nghệ khu vực mới. Kinh nghiệm từ các quốc gia thành công như Hàn Quốc, Singapore… đều cho thấy chìa khóa của việc thu hút FDI giá trị nằm ở việc thiết kế đúng các điều kiện khuyến khích, đồng thời đầu tư song song vào năng lực hấp thụ của doanh nghiệp và nguồn nhân lực trong nước. Nghị quyết 68 đã nắm bắt các bài học quốc tế khi lưu ý đến kênh chuyển giao tri thức tự nhiên và hiệu quả nhất: Hỗ trợ khởi nghiệp cho cán bộ quản lý và kỹ thuật đã làm việc tại doanh nghiệp FDI, tận dụng kinh nghiệm và mối quan hệ của họ để tham gia vào chuỗi cung ứng nội địa. Những kỹ sư và quản lý người Việt đang làm việc trong các nhà máy Samsung hay Toyota hôm nay hoàn toàn có thể là lực lượng có thể dẫn dắt doanh nghiệp nội địa leo lên chuỗi giá trị khi được sự ủng hộ của chính sách. Hành trình nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu không diễn ra trong một sớm một chiều, nhưng nó có thể bắt đầu từ những bước đi cụ thể ngay hôm nay. Xây dựng năng lực cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nội địa để đáp ứng tiêu chuẩn của các nhà mua hàng FDI là con đường ngắn nhất để tham gia vào chuỗi một cách thực chất. Đầu tư vào đào tạo kỹ sư và nhân lực kỹ thuật cao là nền tảng để hấp thụ công nghệ khi nó được chuyển giao. Nghị quyết 57 đặt mục tiêu kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Nghị quyết 68 yêu cầu FDI phải có kế hoạch chuỗi cung ứng nội địa từ đầu. Và ngay lúc này, hai đối tác đầu tư hàng đầu đang trực tiếp nói rằng họ sẵn sàng đi cùng, hỗ trợ Việt Nam trên hành trình đó. Hiếm khi nào các yếu tố lại hội tụ đúng lúc như hiện tại: một định hướng chính sách đã chín muồi từ bên trong, một làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở ra cơ hội từ bên ngoài, và những đối tác lớn nhất đang đích thân nói rằng họ muốn đi xa hơn cùng chúng ta. Đó là sự trưởng thành của một nền kinh tế đang nỗ lực từng ngày, cần những mục tiêu và những động lực tăng trưởng mới khi mô hình cũ đang dần chạm ngưỡng. Và trong bối cảnh thế giới đang định hình lại trật tự sản xuất và công nghệ, sự trưởng thành đó đến đúng lúc, khi Việt Nam vừa hội tụ đủ thế và lực để tham gia cuộc chơi toàn cầu. n Nghị quyết 57 đặt mục tiêu kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Nghị quyết 68 yêu cầu FDI phải có kế hoạch chuỗi cung ứng nội địa từ đầu. NGAYNAY.VN 3 CHUYÊN ĐỀ Số 479 + 480

Từ hồ sơ giấy đến nhịp sống số Không chỉ là chuyện của dân công nghệ Đầu năm 2026, tại trụ sở Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Công ty cổ phần Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội chính thức thành lập. Đây là tín hiệu đáng chú ý cho thấy Hà Nội đang muốn kết nối hợp tác và huy động hệ sinh thái, khẳng định định hướng không chỉ dừng ở một trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, mà hướng tới vai trò điều phối rộng hơn giữa khu vực công, doanh nghiệp, giới nghiên cứu và nguồn vốn. Trong logic vận hành, Trung tâm không đơn thuần là nơi hỗ trợ khởi nghiệp, mà là thiết chế kết nối ba “đường ống” cốt lõi của thành phố thông minh: Dữ liệu, nguồn lực và chính sách. Hai năm trước, ngày 6/12/2024, Trung tâm Dữ liệu chính thành phố Hà Nội khai trương trong sự kì vọng của nhiều lãnh đạo cũng như người dân Thủ đô. Đây là hoạt động thể hiện rõ nỗ lực, quyết tâm của Thành phố trong việc xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin cốt lõi bảo đảm cho phát triển chính quyền điện tử hướng tới chính quyền số thành phố Hà Nội. Thành quả có thể thấy rõ qua những con số mới được thống kê đầu năm 2026: Hơn 24,1 triệu trang hồ sơ đã hoàn thành số hóa; 25 dịch vụ công trực tuyến toàn trình đã được triển khai; 409 hệ thống công nghệ thông tin được di trú về Trung tâm Dữ liệu chính; Thành phố đã hoàn thiện cổng dữ liệu mở với hơn 125 bộ dữ liệu dự kiến công khai. Đặc biệt, 100% ban, sở, ngành đã đăng ký tham gia mở dữ liệu, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế số và đổi mới sáng tạo dựa trên dữ liệu mở. Nhiều ứng dụng phục vụ người dân, doanh nghiệp tiếp tục phát huy hiệu quả. Thống kê đến đầu năm nay, ứng dụng Công dân Thủ đô số iHanoi đã có 5,8 triệu người dùng và 205 triệu lượt truy cập; tiếp nhận 109.606 phản ánh, trong đó 107.815 phản ánh đã được xử lý, đạt tỷ lệ 98,8%. Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID đã có 11.313.865 hồ sơ đúng được các cơ sở khám chữa bệnh liên thông dữ liệu lên Cổng tiếp nhận dữ liệu quốc gia về bảo hiểm… Đến các bộ phận “một cửa” ở Hà Nội, giờ không còn cảnh người dân xếp hàng dài chờ đợi, hồ sơ giấy xếp chồng trên bàn cán bộ. Thay vào đó là màn hình tra cứu thủ tục, máy lấy số tự động, bảng điện tử thông báo tiến độ giải quyết hồ sơ… Đó không chỉ là sự thay đổi về hình thức, mà là kết quả của một quá trình chuyển mình mạnh mẽ, khi Hà Nội quyết tâm kiến tạo chính quyền số, kinh tế số như trước, người dân có thể thực hiện toàn bộ quy trình trên ứng dụng iHanoi. Người dân cũng có thể gửi phản ánh về hạ tầng hư hỏng, vi phạm trật tự xây dựng, vệ sinh môi trường thông qua ứng dụng trực tuyến. Thông tin được chuyển đến cơ quan chức năng xử lý và cập nhật kết quả công khai… Xây dựng nền tảng kiềng ba chân Theo Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam, TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm, điểm nổi bật không chỉ nằm ở việc Hà Nội ứng dụng trí tuệ nhân tạo hay xây dựng trung tâm điều hành thông minh, mà ở chỗ những đột phá thể chế từ Trung ương đã gặp được sự chủ động, linh hoạt và quyết tâm rất cao của chính quyền thành phố. Nhiều cơ chế đặc thù không còn dừng ở phạm vi thí điểm, mà đã trở thành công cụ thực chất để tháo gỡ các điểm nghẽn kéo dài trong đầu tư hạ tầng, giải phóng mặt bằng, chỉnh trang và tái thiết đô thị. Xuyên suốt các Hội nghị trong kỷ nguyên mới. Hà Nội cũng là một trong những địa phương đi đầu trong chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính. Thành phố cũng thành lập hơn 5.000 tổ công nghệ số cộng đồng với khoảng 30.000 thành viên, đưa chuyển đổi số lan tỏa từ cơ quan công quyền đến từng khu dân cư. Chính quyền số của Hà Nội không dừng lại ở cải cách hành chính mà đang mở rộng sang quản trị đô thị thông minh. Tại Trung tâm điều hành thông minh của Thành phố, các hệ thống camera giao thông, cảm biến môi trường, phản ánh hiện trường được kết nối, giúp cơ quan chức năng giám sát tình hình giao thông, an ninh trật tự, ô nhiễm môi trường theo thời gian thực. Đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ được phát hiện qua hệ thống Camera AI, người dân tại 126 xã, phường trên địa bàn Thành phố giờ đây có thêm sự lựa chọn tối ưu. Thay vì phải trực tiếp đến trụ sở các Đội Cảnh sát giao thông để giải quyết Dữ liệu không còn là những con số khô khan mà đã trở thành “dòng máu” nuôi dưỡng mọi hoạt động của xã hội hiện đại. Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang bước vào giai đoạn tăng tốc, dữ liệu chuyển từ vai trò hỗ trợ sang nền tảng cốt lõi của quản trị, điều hành và phát triển kinh tế - xã hội. THÚYHÀ Hơn 1.800 camera AI đang hoạt động tại Hà Nội NGAYNAY.VN 4 Số 479 + 480 CHUYÊN ĐỀ

triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các Nghị quyết 79, 80 vừa qua, lãnh đạo Hà Nội đã luôn nhấn mạnh yêu cầu cấp bách: Phải thực hiện một cuộc chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy đến hành động. Tinh thần chỉ đạo của rất rõ ràng là chuyển từ “nói” sang “làm”, từ “nhận thức” thành “hành động” cụ thể. Hà Nội kiên quyết khắc phục tình trạng “nói nhiều làm ít”, “nói hay làm dở” và chấm dứt lối làm việc quan liêu, xa rời thực tiễn - những rào cản vốn đang kìm hãm sự phát triển của Thủ đô. Ở tầm nhìn dài hạn, những chuyển động từ đầu năm 2026 đang định hình rõ “bộ ba trụ cột” phát triển Thủ đô: Thể chế, quy hoạch và mô hình phát triển mới. Trong đó, thể chế được xác định là khâu đột phá, tạo tiền đề để quy hoạch đi vào cuộc sống và mở đường cho các mô hình tăng trưởng dựa trên kinh tế xanh, kinh tế số, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Cùng với đó, hạ tầng tại Thủ đô đang ngày càng đi trước đón đầu để kiến tạo nên những đột phá mới, đó là đẩy mạnh đầu tư vào trung tâm dữ liệu. Từ trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây đến các nền tảng AI, hạ tầng số đang trở thành “xương sống” của kinh tế dữ liệu tại Hà Nội cũng như nhiều địa phương trên cả nước. Với mục tiêu trở thành “đô thị thông minh - trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực”, Hà Nội đang tận dụng mọi nguồn lực từ chính sách, hạ tầng số, đến lực lượng doanh nghiệp và người dân để biến kinh tế số thành trụ cột tăng trưởng mới, kiến tạo sức mạnh bền vững cho Thủ đô. Mới đây, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 131/ KH-UBND về chuyển đổi số năm 2026, xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ trên ba trụ cột chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, với yêu cầu xuyên suốt là triển khai thực chất, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Kế hoạch số 131 tiếp tục khẳng định chuyển đổi số phải gắn chặt với cải cách hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Trọng tâm trước hết là nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến, phát triển dữ liệu số… Thành phố yêu cầu tăng cường xây dựng, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, hình thành nền tảng dữ liệu dùng chung. Dữ liệu không chỉ là công cụ hỗ trợ mà trở thành “tài nguyên” quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số. n Ở tầm nhìn dài hạn, những chuyển động từ đầu năm 2026 đang định hình rõ “bộ ba trụ cột” phát triển Thủ đô: Thể chế, quy hoạch và mô hình phát triển mới. Trong đó, thể chế được xác định là khâu đột phá, tạo tiền đề để quy hoạch đi vào cuộc sống và mở đường cho các mô hình tăng trưởng dựa trên kinh tế xanh, kinh tế số, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Cùng với đó, hạ tầng tại Thủ đô đang ngày càng đi trước đón đầu để kiến tạo nên những đột phá mới, đó là đẩy mạnh đầu tư vào trung tâm dữ liệu. Từ trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây đến các nền tảng AI, hạ tầng số đang trở thành “xương sống” của kinh tế dữ liệu tại Hà Nội cũng như nhiều địa phương trên cả nước. Máy lấy số tự động tại các bộ phận “một cửa” ở Hà Nội. Với mục tiêu trở thành “đô thị thông minh - trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực”, Hà Nội đang tận dụng mọi nguồn lực từ chính sách, hạ tầng số, đến lực lượng doanh nghiệp và người dân để biến kinh tế số thành trụ cột tăng trưởng mới, kiến tạo sức mạnh bền vững cho Thủ đô. NGAYNAY.VN 5 CHUYÊN ĐỀ Số 479 + 480

Điểm nghẽn đến từ sự phân mảnh dữ liệu thông tin Kinh tế tuần hoàn đang được xác định là hướng đi tất yếu để Việt Nam thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050. Với đặc điểm cơ bản là giúp làm chậm, chấm dứt và thu hẹp chu trình về tài nguyên, kinh tế tuần hoàn được coi là mô hình kinh tế “xanh” hướng tới phát triển bền vững, nhằm thay thế kinh tế tuyến tính truyền thống với đặc trưng là “khai thác - sản xuất - tiêu dùng - thải bỏ”, làm cạn kiệt nguồn vốn tự nhiên với tốc độ nhanh hơn khả năng tái tạo, dẫn đến áp lực lớn lên môi trường và hệ sinh thái. Tuy nhiên, hành trình này đang vấp phải một rào cản vô hình nhưng cực kỳ “kiên cố”: sự thiếu hụt dữ liệu định lượng. Không có dữ liệu, mọi kế hoạch về tái chế hay cộng sinh công nghiệp đều chỉ dừng lại ở những con số ước tính, thiếu tính thực tiễn và khó lòng thuyết phục được các nhà đầu tư. Nhận định về thực trạng này, GS.TS. Phạm Bảo Dương, Hiệu trưởng Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang, thẳng thắn chỉ ra rằng Việt Nam hiện đang thiếu cơ sở dữ liệu định lượng và các mô hình đánh giá hiệu quả một cách khoa học. Ông cho rằng: “Chúng ta chưa có hệ thống thống kê đầy đủ về dòng vật chất, năng lượng, phụ phẩm và chất thải trong các ngành hàng. Đặc biệt, sự vắng bóng của một cơ chế điều phối và chia sẻ dữ liệu liên ngành đang tạo ra những lỗ hổng lớn trong hoạch định chính sách”. Bản chất của chuỗi giá trị tuần hoàn đòi hỏi cách tiếp cận tích hợp, kết nối giữa kinh tế, công nghệ, môi trường và xã hội, trong đó mỗi khâu đều phải được phân tích trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau. Khi dòng chảy vật chất không được đo lường, việc xác định giá trị gia tăng của các mô hình tuần hoàn trở nên vô cùng hạn chế, khiến bài toán chi phí – lợi ích luôn bị đặt dấu hỏi. Đồng quan điểm về việc cần phải “con số hóa” các hoạt động tuần hoàn, ThS. Phạm Thị Thanh, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, nhấn mạnh tầm quan trọng “đứt gãy” thông tin trong toàn chuỗi. Bên cạnh đó, thiếu đi một nền tảng số tích hợp để minh bạch thông tin khiến các chính sách như trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) trở nên khó kiểm soát, bởi khi dữ liệu đầu vào không rõ ràng, việc theo dõi vòng đời sản phẩm hay kết nối cộng sinh công nghiệp sẽ mãi là bài toán chưa có lời giải. Đặc biệt, sự thiếu hụt dữ liệu còn trực tiếp “ngăn” dòng vốn xanh chảy vào nền kinh tế, giảm khả năng thu hút đầu tư nước ngoài đòi hỏi tiêu chuẩn ESG nghiêm ngặt. Những khoảng trống này không chỉ làm chậm tiến độ chuyển đổi mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế và môi trường. Tình trạng thiếu dữ liệu đáng tin cậy kéo dài khiến doanh nghiệp, đặc biệt là các hộ nông dân nhỏ lẻ và hợp tác xã, khó tiếp cận tín dụng xanh, chứng chỉ carbon hoặc thị trường sản phẩm tuần hoàn. Trong đó, một trong những rào cản lớn nhất mà các chuyên gia tập trung nhấn mạnh chính là thiếu dữ liệu môi trường chuẩn hóa và đáng tin cậy. Khi không có dữ liệu để đánh giá rủi ro môi trường – xã hội của doanh nghiệp, các tổ chức tài chính rất khó để của việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phân tích dòng vật chất (Material Flow Analysis – MFA). Theo bà Thanh: “Chỉ khi định lượng được dòng tài nguyên đang chảy đi đâu, thất thoát ở đâu, chúng ta mới xác định được chính xác các lĩnh vực ưu tiên để can thiệp tuần hoàn. Việc thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất về dòng vật chất và chất thải khiến việc đo lường hiệu quả kinh tế tuần hoàn hiện nay còn chủ yếu mang tính định tính”. Sự phân mảnh dữ liệu không chỉ nằm ở khâu thống kê mà còn hiện hữu trong công tác quản lý vĩ mô. Việt Nam chưa có một nền tảng số dùng chung cho lĩnh vực quản lý tài nguyên, chất thải. Dữ liệu thông tin về phế liệu, chất thải, nguyên vật liệu tái chế hiện nằm rải rác ở nhiều cơ quan khác nhau mà chưa có sự kết nối. Việc chưa có cơ chế chia sẻ dữ liệu hiệu quả giữa các bộ ngành, cũng như giữa nhà nước với doanh nghiệp đã dẫn đến tình trạng Dữ liệu số - Chìa khóa kiến tạo hệ Trong nỗ lực chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn, dữ liệu không chỉ là những con số thống kê mà còn là nền tảng cốt lõi để quản trị tài nguyên và thu hút các nguồn vốn xanh. Tuy nhiên, sự thiếu hụt và phân mảnh thông tin hiện nay đang trở thành “điểm nghẽn” lớn nhất cần được tháo gỡ bằng công nghệ và chính sách đồng bộ. NGỌC PHẠM NGAYNAY.VN 6 Số 479 + 480 CHUYÊN ĐỀ

thẩm định và xác nhận tính “xanh” của các dự án, dẫn đến tình trạng “ngăn dòng” của tín dụng xanh và trái phiếu xanh do lo ngại rủi ro “tẩy xanh” (greenwashing). Tích hợp giữa chuyển đổi xanh và chuyển đổi số Để tháo gỡ những “nút thắt” nói trên, Việt Nam cần một lộ trình tích hợp giữa chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Trong đó, dữ liệu số chính là chìa khóa để kiến tạo nên một hệ sinh thái tuần hoàn minh bạch, nơi mà mọi dòng vật chất đều được định danh và tối ưu hóa giá trị, và chuyển đổi số chính là chìa khóa để lấp đầy khoảng trống dữ liệu và đẩy nhanh kinh tế tuần hoàn. Trong tiến trình hiện thực hóa hiệu quả mô hình kinh tế tuần hoàn, việc thay đổi tư duy và quy trình sản xuất đòi hỏi những nền tảng hỗ trợ mang tính đột phá. Trong đó, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo được xem là hai động lực nền tảng, giúp thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế, giải quyết đồng thời mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Chuyển đổi số giúp số hóa các quy trình để thu thập khối lượng dữ liệu khổng lồ (Big Data) về vòng đời sản phẩm. Theo ý kiến của các chuyên gia, những nền tảng chia sẻ dữ liệu sẽ tạo ra hệ sinh thái kinh doanh mới, kết nối các chủ thể để biến chất thải của doanh nghiệp này thành đầu vào của doanh nghiệp khác một cách tự động và minh bạch. Và chính khối dữ liệu này cho phép các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp ra quyết định dựa trên thực tiễn. Dưới góc độ công nghệ thực thi, xu hướng áp dụng các công nghệ như IoT và Blockchain để theo dõi dòng đời sản phẩm và xây dựng cơ sở dữ liệu số quốc gia về chất thải và tái chế được xem là một giải pháp hiệu quả. Việc minh bạch hóa dữ liệu thông qua công nghệ không chỉ giúp quản lý tốt hơn, mà còn thúc đẩy thị trường nguyên liệu thứ cấp phát triển mạnh mẽ. Khi một doanh nghiệp có phế liệu và một đơn vị cần tái chế được kết nối trên một nền tảng dữ liệu chung, chi phí giao dịch sẽ giảm xuống và giá trị tài nguyên sẽ được bảo tồn. Ngoài ra, dữ liệu còn đóng vai trò quan trọng hơn trong việc định danh sản phẩm trên thị trường quốc tế. Chuyên gia Trịnh Đức Chiều, Khoa Kế hoạch và Phát triển, Trường Kinh tế và Quản lý công thuộc Đại học Kinh tế Quốc dân, chỉ ra rằng việc áp dụng “Hộ chiếu sản phẩm số” (Digital Product Passport) là xu thế tất yếu. Mọi thông tin về nguồn gốc vật liệu, khả năng tái chế và dấu chân carbon của sản phẩm phải được minh bạch hóa thông qua dữ liệu. Đây sẽ là tấm “thẻ thông hành” bắt buộc để doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về bền vững của các thị trường lớn như EU hay Bắc Mỹ. Nhiều chuyên gia bày tỏ tin tưởng rằng, giải pháp căn cơ để khơi thông vốn xanh nằm ở việc xây dựng một Trung tâm dữ liệu ESG quốc gia (National ESG Data Hub). Trung tâm này sẽ là nơi tập hợp, chuẩn hóa các chỉ số về phát thải, tiêu thụ năng lượng và tác động môi trường của doanh nghiệp. Khi các ngân hàng có thể truy cập và thẩm định hồ sơ dựa trên dữ liệu thực tế, rủi ro “tẩy xanh” sẽ bị loại bỏ, củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư và khơi thông dòng tín dụng xanh vào các dự án tuần hoàn. Có thể thấy, dữ liệu chính là “ngôn ngữ chung” để tất cả các bên – từ nhà quản lý, doanh nghiệp đến các tổ chức tài chính – cùng tham gia vào vòng tròn kinh tế tuần hoàn. Nếu không làm chủ được dữ liệu, chúng ta sẽ mãi loay hoay với các mô hình thí điểm nhỏ lẻ. Ngược lại, khi dòng chảy dữ liệu được khơi thông, đó sẽ là động lực mạnh mẽ nhất để đưa kinh tế tuần hoàn Việt Nam bứt phá, trở thành một nền kinh tế xanh, minh bạch và có sức cạnh tranh cao trên bản đồ thế giới. n sinh thái tuần hoànminh bạch Chúng ta chưa có hệ thống thống kê đầy đủ về dòng vật chất, năng lượng, phụ phẩm và chất thải trong các ngành hàng. Đặc biệt, sự vắng bóng của một cơ chế điều phối và chia sẻ dữ liệu liên ngành đang tạo ra những lỗ hổng lớn trong hoạch định chính sách GS.TS. Phạm Bảo Dương Khi không có dữ liệu để đánh giá rủi ro môi trường – xã hội của doanh nghiệp, các tổ chức tài chính rất khó để thẩm định và xác nhận tính “xanh” của các dự án, dẫn đến tình trạng “ngăn dòng” của tín dụng xanh và trái phiếu xanh do lo ngại rủi ro “tẩy xanh” (greenwashing). NGAYNAY.VN 7 CHUYÊN ĐỀ Số 479 + 480

THÀNH PHỐ THÔNG MINH: Cuộc đua năng lực điều Dữ liệu - hạ tầng chiến lược điều hành đô thị Trong nhiều năm, khái niệm “Thành phố thông minh” thường gắn với camera, Internet kết nối vạn vật (IoT) hay trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, ngày càng nhiều chuyên gia cho rằng bản thân công nghệ không tạo nên một thành phố thông minh. Giá trị thật nằm ở khả năng biến dữ liệu thành quyết định quản trị. Tại Singapore, mô hình “Quốc gia thông minh” được triển khai như một chiến lược điều hành quốc gia thay vì một dự án công nghệ đơn lẻ. Dữ liệu từ giao thông, năng lượng, môi trường đến dịch vụ công được kết nối liên tục nhằm hỗ trợ chính quyền ra quyết định theo thời gian thực. Một trong những nền tảng quan trọng nhất là Virtual Singapore, “bản sao số 3D” của toàn bộ đảo quốc, cho phép mô phỏng tác động của giao thông, mật độ dân cư, tiêu thụ năng lượng hay nguy cơ ngập lụt trước khi triển khai ngoài thực tế. Theo Cơ quan Công nghệ Chính phủ Singapore (GovTech), hệ thống dữ liệu từ cảm biến, camera và hạ tầng đô thị đã hỗ trợ đáng kể cho công tác quy hoạch cũng như quản lý khủng hoảng. Trong đại dịch Covid-19, Singapore sử dụng dữ liệu di chuyển và nền tảng truy vết kỹ thuật số để theo dõi lây nhiễm và điều phối phản ứng y tế nhanh hơn nhiều quốc gia khác. Đáng chú ý, thông qua nền tảng data.gov.sg và hệ sinh thái GovTech, chính phủ mở nhiều bộ dữ liệu đô thị cho doanh nghiệp, startup và viện nghiên cứu cùng tham gia phát triển giải pháp cho giao thông, năng lượng và dịch vụ công. Ngay cả Virtual Singapore cũng được thiết kế như một không gian thử nghiệm mở, nơi các trường đại học và doanh nghiệp công nghệ có thể kiểm thử giải pháp đô thị trước khi đưa vào thực tế. Bộ trưởng Phát triển Kỹ thuật số và Thông tin Singapore Josephine Teo cho rằng, lợi thế lớn nhất của Singapore không nằmở AI hay camera, mà ở “khả năng phối hợp dữ liệu giữa các cơ quan để đưa ra quyết định nhanh và đồng nhất”. Nhận định này phản ánh xu hướng mới của thành phố thông minh, nơi dữ liệu đang trở thành công cụ điều hành chiến lược và cũng là nền tảng để khu vực công lẫn tư nhân cùng tham gia giải bài toán đô thị. hóa dữ liệu mà đang biến toàn bộ hạ tầng thành hệ thống vận hành thông minh theo thời gian thực. Tokyo theo đuổi mô hình thành phố thông minh theo hướng kết hợp giữa phát triển bền vững và đổi mới sáng tạo. Một trong những sáng kiến nổi bật là SusHi Tech Tokyo - diễn đàn do chính quyền đô thị Tokyo tổ chức nhằm kết nối startup, doanh nghiệp công nghệ, quỹ đầu tư và cơ quan quản lý để cùng phát triển giải pháp cho giao thông xanh, năng lượng sạch và hạ tầng đô thị thông minh. Theo Ban tổ chức, sự kiện SusHi Tech Tokyo 2025 thu hút hàng chục nghìn đại biểu cùng hàng trăm startup từ nhiều quốc gia tham gia thử nghiệm và gọi vốn cho các công nghệ đô thị xanh. Chính quyền Tokyo xem đây là cách biến thành phố thành “hệ sinh thái đổi mới”, nơi khu vực công đóng vai trò mở dữ liệu, tạo không gian thử nghiệm và kết nối nguồn lực thay vì tự giải quyết toàn bộ bài toán đô thị. Còn tại Hàn Quốc, mô hình “Physical AI” của Seoul được xây dựng theo hướng đưa AI ra khỏi môi trường số để can thiệp trực tiếp vào vận hành đô thị. Theo chính quyền Seoul, thành phố sẽ mở các khu thử nghiệm thực tế cho robot giao hàng tự động, xe tự lái, hệ thống điều phối giao thông bằng AI và công nghệ quản lý năng lượng theo thời gian thực. Các dữ liệu thu thập từ camera, cảm biến, phương tiện công cộng và hạ tầng đô thị sẽ được kết nối trực tiếp vào một nền tảng chung nhằm cho phép AI phân tích và phản ứng gần như tức thì trước các biến động của thành phố. “Seoul muốn trở thành phòng thí nghiệm đô thị sống - nơi công nghệ được kiểm chứng trực tiếp trong đời sống hàng ngày thay vì chỉ dừng ở mô hình nghiên cứu,” Thị trưởng Oh Se-hoon nói. Cách tiếp cận này phản ánh xu hướng mới của thành phố thông minh khi không chỉ số ĐỖ PHÚ Hơn một thập niên qua, mô hình thành phố thông minh đã trở thành xu thế phát triển chủ đạo tại nhiều đô thị lớn trên thế giới. Việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật vào quản trị đô thị không chỉ nâng cao hiệu quả vận hành mà còn nâng cao chất lượng sống của người dân. Hệ thống thu phí ERP giúp giảm đáng kể mật độ phương tiện giao thông cá nhân tại Singapore. Ảnh: ResearchGate Tại Singapore, mô hình “Quốc gia thông minh” được triển khai như một chiến lược điều hành quốc gia thay vì một dự án công nghệ đơn lẻ. Dữ liệu từ giao thông, năng lượng, môi trường đến dịch vụ công được kết nối liên tục nhằm hỗ trợ chính quyền ra quyết định theo thời gian thực. Một trong những nền tảng quan trọng nhất là Virtual Singapore, “bản sao số 3D” của toàn bộ đảo quốc, cho phép mô phỏng tác động của giao thông, mật độ dân cư, tiêu thụ năng lượng hay nguy cơ ngập lụt trước khi triển khai ngoài thực tế. NGAYNAY.VN 8 Số 479 + 480 CHUYÊN ĐỀ

hành bằng dữ liệu “Cuộc đua” thật sự nằm ở năng lực điều hành Nhiều chuyên gia nhấn mạnh, trong cạnh tranh công nghệ toàn cầu, quốc gia nào làm chủ được dữ liệu và AI sẽ có lợi thế lớn về năng suất và năng lực cạnh tranh. Những nền kinh tế nắm bắt kịp làn sóng công nghệ mới có thể bứt phá mạnh mẽ, trong khi các quốc gia chậm thích ứng có nguy cơ tụt lại phía sau. Các đô thị tiên phong hiện nay đều bắt đầu từ những bài toán rất cụ thể như giảm ùn tắc, phát thải hay rút ngắn thời gian xử lý dịch vụ công. Công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp chính quyền đưa ra quyết định nhanh hơn, chính xác hơn và đo đếm được hiệu quả vận hành. Đó cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng sự thay đổi lớn nhất của đô thị thông minh nằm ở cách quản trị đang chuyển từ “phản ứng sau sự cố” sang “dự báo và can thiệp sớm”. Tuy nhiên, càng phụ thuộc vào dữ liệu, các đô thị càng đối mặt với những câu hỏi lớn hơn về quyền riêng tư. Theo đó, bài toán khó nhất hiện nay không còn là thu thập dữ liệu, mà là quản trị dữ liệu. Một thành phố có thể sở hữu hàng trăm nghìn camera, nhưng nếu dữ liệu bị chia cắt giữa các sở ngành hoặc thiếu cơ chế phối hợp thống nhất, hệ thống đó vẫn khó tạo ra năng lực điều hành thực chất. Song song với lợi ích, mô hình đô thị dữ liệu cũng làm dấy lên lo ngại về giám sát công dân. Theo điều tra của The Guardian công bố tháng 5-2026, cảnh sát London đã tăng số lượt quét khuôn mặt thêm 87% chỉ trong một năm, với hơn 1,7 triệu khuôn mặt được AI quét tại nơi công cộng. Một cuộc điều tra khác của tờ báo này cho biết nhiều người dân tại Anh đã bị nhận diện nhầm bởi hệ thống AI trong các cửa hàng bán lẻ và bị đối xử như nghi phạm dù hoàn toàn vô tội. Các cơ quan giám sát tại Anh cảnh báo tốc độ triển khai công nghệ đang vượt quá khả năng kiểm soát pháp lý, có thể khiến hệ thống giống một “mạng lưới pháp lý chắp vá”, thiếu cơ chế giám sát thống nhất đối với dữ liệu khuôn mặt và AI đô thị. Lo ngại tương tự cũng xuất hiện tại châu Phi khi ít nhất 11 chính phủ tại châu lục này đã chi khoảng 2 tỷ USD cho công nghệ giám sát tích hợp nhận diện khuôn mặt. Các chuyên gia cảnh báo nhiều hệ thống được triển khai với rất ít cơ chế giám sát độc lập hoặc quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân. Những lo ngại này cho thấy cuộc đua thành phố thông minh không còn đơn thuần là cuộc đua công nghệ. Một đô thị có thể sở hữu hạ tầng dữ liệu rất mạnh, nhưng nếu người dân cảm thấy bị theo dõi hoặc không kiểm soát được dữ liệu của chính mình, mô hình đó sẽ đối mặt với khủng hoảng niềm tin. Sau nhiều năm chạy đua xây dựng thành phố thông minh, thế giới đang bước vào giai đoạn mà lợi thế không còn nằm ở số lượng camera hay quy mô trung tâm điều hành, mà ở khả năng biến dữ liệu thành những quyết định quản trị hiệu quả, phản ứng nhanh trước khủng hoảng nhưng vẫn giữ được sự minh bạch và niềm tin của người dân. n Robot giao hàng Dilly tại Seoul. Ảnh: Korea Times Hệ thống thu phí ERP giúp giảm mật độ phương tiện giao thông cá nhân tại Singapore. Ảnh: ResearchGate Seoul muốn trở thành phòng thí nghiệm đô thị sống - nơi công nghệ được kiểm chứng trực tiếp trong đời sống hàng ngày thay vì chỉ dừng ở mô hình nghiên cứu,” Thị trưởng Seoul Oh Se-hoon NGAYNAY.VN 9 CHUYÊN ĐỀ Số 479 + 480

Tại Hội thảo “Blockchain và mật mã tăng cường an ninh mạng” vừa diễn ra cuối tháng 4/2026, Đại tá, GS. TS. Nguyễn Hiếu Minh, Phó Giám đốc, Học viện Kỹ thuật mật mã bày tỏ quan điểm: Khi mọi hoạt động kinh tế - xã hội ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số thì vấn đề cốt lõi không chỉ là “kết nối”, mà sâu xa hơn là niềm tin trong môi trường số. Blockchain - với đặc trưng phi tập trung, minh bạch và bất biến, đang dần hình thành một kiến trúc niềm tin mới. Tuy nhiên, nếu blockchain là nền tảng kiến tạo niềm tin, thì mật mã học chính là yếu tố bảo đảm cho niềm tin đó được duy trì một cách vững chắc và lâu dài. Giải bài toán lớn về an ninh mạng Từ góc nhìn công nghệ, TS. Đỗ Văn Thuật, Giám đốc Giải pháp và Kiến trúc Blockchain, Công ty 1Matrix, cho rằng, vấn đề cốt lõi của bảo mật không nằm ở từng công nghệ đơn lẻ mà ở câu hỏi ai kiểm soát hệ thống và ai có thể kiểm chứng quyền kiểm soát đó. Theo ông Thuật, các rủi ro thường xuất hiện ở lớp ứng dụng và quy trình vận hành. Trong hợp đồng thông minh, đó có thể là lỗi logic nghiệp vụ, lỗi phân quyền, lỗi gọi lại nhiều lần để rút tài sản trái phép, hoặc việc dữ liệu đầu vào từ bên ngoài bị thao túng. Ở phía người dùng, nguy cơ đến từ các hình thức quen thuộc hơn như lừa đảo giả mạo, ví bị chiếm quyền truy cập, giao diện website giả, hoặc mã độc theo dõi bộ nhớ tạm để đánh tráo địa chỉ ví khi người dùng sao chép. Vụ sàn giao dịch Bybit bị tấn công và thiệt hại hơn 1,5 tỷ USD là một ví dụ điển hình cho rủi ro ở lớp giao diện và vận hành. Theo số liệu TRM Labs 2026, riêng năm 2025, các vụ tấn công vào hạ tầng và khâu vận hành đã gây thiệt hại khoảng 2,2 tỷ USD, chiếm 76% tổng thiệt hại của toàn thị trường. Thiệt hại bình quân lên tới 48,5 triệu USD/vụ, bao gồm lộ khóa/ trùng. Do đó mật mã hậu lượng tử đóng vai trò quan trọng và cần thiết để đảm bảo sự an toàn của hệ thống trong bối cảnh công nghệ mới”, TS Hưởng nhấn mạnh. Theo TS Phạm Văn Hưởng, chúng ta đang sống trong một thời đại mà mọi hoạt động kinh tế - xã hội ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số. Trong bối cảnh đó, vấn đề cốt lõi không chỉ là “kết nối”, mà sâu xa hơn là niềm tin trong môi trường số. Blockchain - với đặc trưng phi tập trung, minh bạch và bất biến, đang dần hình thành một kiến trúc niềm tin mới. Tuy nhiên, nếu blockchain là nền tảng kiến tạo niềm tin, thì mật mã học chính là yếu tố bảo đảm cho niềm tin đó được duy trì một cách vững chắc và lâu dài. Không có mật mã mạnh, blockchain không thể đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu. Không có mật mã tiên tiến, blockchain khó có thể chống đỡ trước các mối đe dọa ngày càng tinh vi, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ lượng tử đang dần trở thành hiện thực. seed phrase, hạ tầng ví, quyền truy cập đặc quyền và front-end. Đồng quan điểm, TS. Phạm Văn Hưởng, Chủ nhiệm Khoa Công nghệ thông tin, Học viện Kỹ thuật mật mã, lưu ý về rủi ro máy tính lượng tử sẽ thay đổi các bài toán về an ninh mạng hiện nay. “Nếu máy tính lượng tử phát triển, những cách bảo vệ quen thuộc hôm nay như chữ ký số và hàm băm có thể sẽ không còn hiệu quả, dẫn đến nguy cơ chữ ký số có thể bị giả mạo, ví có thể bị chiếm quyền, giao dịch cũ có thể bị ký lại hoặc tạo giao dịch THÙYCHI Quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ cùng với các chủ trương của Đảng, Nhà nước về đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc bảo đảm an toàn, an ninh thông tin - không chỉ ở cấp độ hệ thống mà còn ở tầm chiến lược quốc gia. (Từ trái qua) bà Khuất Bích Thuỷ, TS Trần Anh Tú, TS Phạm Văn Hưởng, TS Đỗ Văn Thuật tham gia phiên thảo luận về các cơ hội nghề nghiệp trong lĩnh vực tài sản mã hoá. cùng giải các bài toán Mật mã hậu lượng tử đóng vai trò quan trọng và cần thiết để đảm bảo sự an toàn của hệ thống trong bối cảnh công nghệ mới. TS. Phạm Văn Hưởng NGAYNAY.VN 10 Số 479 + 480 CHUYÊN ĐỀ

Từ các phân tích về rủi ro bảo mật, ông Nghiêm Minh Hoàng, Chuyên gia Ứng dụng Fintech (VBA) chia sẻ về kiến trúc thiết kế Mạng Dịch vụ Đa chuỗi Blockchain Việt Nam (VBSN) như lời giải cho sự cân bằng giữa khả năng mở rộng, tăng cường ứng dụng và an toàn hệ thống. Với kiến trúc đa chuỗi, đa tầng, đa cầu nối, Mạng Dịch vụ Đa chuỗi Blockchain Việt Nam VBSN vừa giúp phân tán rủi ro, tăng cường năng lực kết nối và khả năng mở rộng đồng thời cả theo chiều ngang (liên ngành) và chiều dọc (tăng cường quy mô ngành), tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế. Hạ tầng VBSN do kỹ sư Việt Nam làm chủ 100% về công nghệ. VBSN hiện đã hoàn thành giai đoạn phát triển và sẵn sàng chuyển giao cho cơ quan Nhà nước, phục vụ cho cả khu vực dịch vụ công - tư. Cơ hội nghề nghiệp tại giao điểm của blockchain, mật mã và an ninh mạng Giữa giao điểm của blockchain, mật mã và an ninh mạng, cơ hội nghề nghiệp của người trẻ sẽ như thế nào? Sinh viên cần chuẩn bị gì trước khi bước chân vào thị trường lao động đặc thù này? - Các vấn đề cụ thể như năng lực kỹ thuật, kỹ năng thực tiễn, tư duy bảo mật cho đến kiến thức pháp lý và khả năng thích ứng với thị trường đã được các chuyên gia phân tích khá kĩ. Từ góc nhìn pháp lý và tuân thủ, bà Khuất Bích Thủy, Giám đốc Pháp lý và Cấp phép, Tether Việt Nam, nhấn mạnh thị trường sẽ cần những nhân sự có thể làm việc trong môi trường áp dụng quy chuẩn và thông lệ quốc tế. Theo bà, đây là con đường để sinh viên hiểu cách các tiêu chuẩn toàn cầu được đưa vào vận hành trong quy trình kinh doanh và hệ thống kiểm soát của doanh nghiệp. “Bên cạnh nền tảng kỹ thuật, sinh viên muốn theo đuổi lĩnh vực này cần chú trọng ba yếu tố: Năng lực kỹ thuật theo chuẩn quốc tế, đặc biệt là hiểu sâu về an toàn thông tin và mật mã học; khả năng tự học và thích nghi trong một lĩnh vực thay đổi rất nhanh; cùng với ngoại ngữ và tư duy toàn cầu để có thể làm việc trực tiếp với tài liệu tiếng Anh, môi trường quốc tế và các mô hình làm việc không biên giới”, bà Thuỷ nhấn mạnh. Theo TS. Trần Anh Tú, Giảng viên Khoa An toàn thông tin, Học viện Kỹ thuật mật mã, khó nhất của một hệ thống blockchain không phải lúc trình bày ý tưởng, mà là lúc đưa vào vận hành. Nhiều hệ thống nhìn thì đúng về công nghệ, nhưng khi chạy thực tế lại lộ lỗi ở phần lập trình, phân quyền, kiểm tra dữ liệu đầu vào hoặc quy trình sử dụng. Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là học lý thuyết cho chắc, mà còn phải rèn các kỹ năng có thể dùng ngay trong công việc như viết mã an toàn, kiểm thử bảo mật và tìm lỗ hổng trước khi hệ thống gặp sự cố. Nói cách khác, doanh nghiệp không chỉ cần người hiểu blockchain, mà cần người biết cách làm cho một hệ thống blockchain an toàn hơn. n Sinh viên cần phải chuẩn bị nhiều kỹ năng hơn để tiếp cận với công nghệ, AI. Bên cạnh nền tảng kỹ thuật, sinh viên muốn theo đuổi lĩnh vực này cần chú trọng ba yếu tố: Năng lực kỹ thuật theo chuẩn quốc tế, đặc biệt là hiểu sâu về an toàn thông tin và mật mã học; khả năng tự học và thích nghi trong một lĩnh vực thay đổi rất nhanh; cùng với ngoại ngữ và tư duy toàn cầu để có thể làm việc trực tiếp với tài liệu tiếng Anh, môi trường quốc tế và các mô hình làm việc không biên giới. Bà Khuất Bích Thủy Không có mật mã mạnh, blockchain không thể đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu. Không có mật mã tiên tiến, blockchain khó có thể chống đỡ trước các mối đe dọa ngày càng tinh vi, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ lượng tử đang dần trở thành hiện thực. thực tế NGAYNAY.VN 11 CHUYÊN ĐỀ Số 479 + 480

RkJQdWJsaXNoZXIy MTA3Mzg1MA==