50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO: Khơi nguồn nội lực văn hóa, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 3: Hội nhập quốc tế bằng bản lĩnh Việt Nam

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO: Khơi nguồn nội lực văn hóa, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 3: Hội nhập quốc tế bằng bản lĩnh Việt Nam

Giá trị của những chuẩn mực quốc tế được khẳng định khi đi vào nhận thức xã hội, luật pháp và năng lực tổ chức thực tiễn. Từ cách nhận diện di sản, mở rộng quyền học tập, tiếp cận khoa học đến quản lý các hệ sinh thái, Việt Nam đã lựa chọn và điều chỉnh tri thức UNESCO theo điều kiện trong nước. Qua đó, những tư tưởng chung của nhân loại dần trở thành chính sách, thiết chế và nguồn lực cho phát triển.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO: Khơi nguồn nội lực văn hóa, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 3: Hội nhập quốc tế bằng bản lĩnh Việt Nam ảnh 1

Trước khi đi vào luật pháp và chính sách, một khái niệm cần được định hình trong nhận thức xã hội. Với di sản văn hóa, tiến trình ấy kéo dài qua nhiều thập niên, từ những cuộc thảo luận về giá trị cần kế thừa đến việc hình thành hệ thống thuật ngữ, loại hình và phương pháp bảo vệ tương đối thống nhất như hiện nay.

Chia sẻ với Ngày Nay, TS. Trần Hoài, Trưởng Bộ môn Di sản học, Khoa Công nghiệp văn hóa và Di sản, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho biết: "Khái niệm “di sản” đã được sử dụng ở Việt Nam khá sớm. Sau khi giành được độc lập, xã hội Việt Nam lúc bấy giờ từng đặt ra câu hỏi cần kế thừa những gì từ làng xã và truyền thống dân tộc, giá trị nào nên giữ lại, nội dung nào cần thay đổi. Tuy nhiên, khái niệm di sản khi ấy chưa có nội hàm thống nhất, các thuật ngữ được sử dụng chồng lấn khi mô tả về các giá trị truyền thống".

Cách gọi ấy phản ánh tư duy của một giai đoạn. Giá trị văn hóa chủ yếu được nhận diện qua di tích và cổ vật, còn bảo tồn, bảo tàng giữ vị trí trung tâm. Cách nhìn này chi phối pháp luật, cơ cấu quản lý văn hóa và hoạt động đào tạo chuyên môn. Việc Việt Nam tham gia các công ước và hợp tác với UNESCO đã góp phần đưa khái niệm di sản vào vị trí trung tâm. Đây không đơn thuần là sự thay đổi thuật ngữ. Phạm vi bảo vệ được mở rộng từ di tích, cổ vật đến di sản vật thể, di sản phi vật thể, di sản tư liệu và cảnh quan di sản.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO: Khơi nguồn nội lực văn hóa, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 3: Hội nhập quốc tế bằng bản lĩnh Việt Nam ảnh 2

Đây là nền tảng của cách tiếp cận "di sản sống". Giá trị văn hóa không tồn tại như một phần quá khứ đã hoàn tất. Nó được con người thực hành, trao truyền, điều chỉnh và tiếp tục tạo nghĩa trong đời sống hiện tại. Hoạt động bảo vệ theo đó cũng mở rộng từ gìn giữ hình hài vật chất sang bảo đảm những điều kiện để giá trị ấy tiếp tục tồn tại.

Việc xác lập nội hàm của khái niệm di sản còn tạo ra một ngôn ngữ chung cho cơ quan quản lý, giới nghiên cứu và xã hội. Khi một giá trị được nhận diện dưới tư cách di sản, giá trị ấy có thêm cơ sở để được tìm hiểu, nghiên cứu, khoanh vùng và đặt ra yêu cầu bảo vệ. Ở những cấp độ khác nhau, việc xếp hạng hoặc ghi danh giúp xác lập rõ hơn trách nhiệm quản lý, song khái niệm di sản không chỉ dành cho những giá trị đã được trao danh hiệu.

Theo TS Trần Hoài, khuôn khổ nhận thức này đang tiếp tục được vận dụng để xem xét những giá trị chưa được nhận diện hoặc bảo vệ đầy đủ. Kiến trúc công nghiệp cũ, các xí nghiệp trước đây và những khu tập thể là những ví dụ đang nhận được nhiều sự quan tâm hơn. Trước tốc độ đô thị hóa và những tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, việc nhìn nhận một công trình hay không gian dưới góc độ di sản có thể tạo ra ngôn ngữ và cơ sở lập luận để xã hội cân nhắc kỹ hơn trước khi một giá trị bị biến đổi hoặc mất đi.

Ở chiều ngược lại, thực tiễn luôn đặt ra những vấn đề mới mà các công ước khó có thể dự liệu hết. UNESCO vì thế thường xuyên cập nhật các hướng dẫn về quản lý và bảo vệ di sản, dựa trên kinh nghiệm cùng đề xuất của các quốc gia thành viên.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO: Khơi nguồn nội lực văn hóa, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 3: Hội nhập quốc tế bằng bản lĩnh Việt Nam ảnh 3

Nhìn lại quá trình ấy, TS. Trần Hoài khái quát ba chuyển biến quan trọng. Hệ thống khái niệm về bảo tồn và phát huy vốn văn hóa truyền thống từng bước được chuẩn hóa. Các loại hình di sản được nhận diện, phân loại và đặt trong một hệ thống thuận lợi hơn cho nghiên cứu, quản lý. Những giá trị được xác định là di sản cũng có thêm vị thế xã hội và cơ sở để được coi trọng, bảo vệ trong đời sống đương đại.

Dấu ấn của UNESCO vì thế không nằm riêng ở các danh sách ghi danh. Sâu hơn là sự hình thành một ngôn ngữ chung về di sản, qua đó Việt Nam mở rộng những giá trị cần bảo vệ, điều chỉnh phương pháp quản lý và tạo điều kiện để vốn văn hóa truyền thống tiếp tục sống trong xã hội hôm nay.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO: Khơi nguồn nội lực văn hóa, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 3: Hội nhập quốc tế bằng bản lĩnh Việt Nam ảnh 4

Từ việc hình thành một ngôn ngữ chung để nhận diện di sản, hợp tác với UNESCO còn góp phần mở rộng một ranh giới khác trong đời sống xã hội Việt Nam. Đó là quan niệm về người học, không gian học tập và khả năng tiếp cận tri thức.

Trong một thời gian dài, việc học chủ yếu được tổ chức quanh nhà trường, cấp học và độ tuổi. Khi rời hệ thống giáo dục chính quy, cơ hội tiếp tục học tập của nhiều người trở nên hạn chế. Những tư tưởng của UNESCO về Giáo dục cho mọi người, giáo dục bao trùm và học tập suốt đời đã góp phần định hình một cách tiếp cận rộng hơn. Giáo dục được nhìn như quá trình diễn ra trong suốt cuộc sống, bằng nhiều hình thức và tại nhiều không gian.

Việt Nam tiếp nhận cách tiếp cận ấy trên nền tảng của phong trào xóa mù chữ, phổ cập giáo dục và truyền thống khuyến học đã được hình thành từ trước. Những kinh nghiệm trong nước được đặt trong một khung tư tưởng mới, từ đó chuyển dần thành mục tiêu phát triển và hệ thống chính sách.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO: Khơi nguồn nội lực văn hóa, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 3: Hội nhập quốc tế bằng bản lĩnh Việt Nam ảnh 5

Khi việc học được nhìn như một quá trình suốt đời, quyền tiếp cận tri thức cũng đi xa hơn nhu cầu phổ cập kỹ năng cơ bản. Nó mở tới khả năng bước vào khoa học, sử dụng thành tựu nghiên cứu và tham gia tạo ra tri thức mới. Việc hình thành Trung tâm Quốc tế Đào tạo và Nghiên cứu Toán học cùng Trung tâm Vật lý quốc tế, hai trung tâm loại 2 hoạt động dưới sự bảo trợ của UNESCO tại Việt Nam, thể hiện sự chuyển hóa ấy trong lĩnh vực khoa học cơ bản. Các trung tâm tạo thêm không gian đào tạo trình độ cao, nghiên cứu và kết nối các nhà khoa học Việt Nam với mạng lưới chuyên môn trong khu vực.

Một đường biên khác đang được mở ra từ Khuyến nghị về Khoa học mở được UNESCO thông qua tháng 11/2021. Văn kiện hướng tới khả năng tiếp cận, sử dụng và tái sử dụng tri thức khoa học, đồng thời thúc đẩy hợp tác trong quá trình tạo ra, đánh giá và truyền thông nghiên cứu.

Ngay khi UNESCO đang hoàn thiện Khuyến nghị, tháng 10/2021, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức hội thảo về cơ hội và thách thức của khoa học mở đối với Việt Nam. Tháng 5/2023, các trung tâm toán học, vật lý quốc tế cùng một số tổ chức nghiên cứu tiếp tục đưa chủ đề này vào các bài giảng công chúng và đối thoại chính sách. Khoa học mở qua đó dần được nhận diện và tìm kiếm cơ chế vận dụng phù hợp với điều kiện trong nước.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO: Khơi nguồn nội lực văn hóa, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 3: Hội nhập quốc tế bằng bản lĩnh Việt Nam ảnh 6

Cơ hội tiếp cận tri thức chỉ được mở rộng thực chất khi không bị giới hạn bởi giới tính. Sự hiện diện của phụ nữ trong giáo dục đại học cho thấy chuyển biến rõ rệt. Tỷ lệ sinh viên nữ tăng từ 52,8% trong năm học 2016 đến năm 2017 lên 54,2% vào năm học 2021 đến năm 2022.

Từ quyền được học đến khả năng tham gia nghiên cứu cần thêm những cơ chế cụ thể. Quyết định số 383/QĐ-BGDĐT năm 2022 đưa bình đẳng giới vào kế hoạch hành động của ngành giáo dục với các mục tiêu có thể đo lường. Đến năm 2030, nữ tiến sĩ được đặt mục tiêu chiếm 45% trong các cơ sở giáo dục, tỷ lệ nữ làm chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Bộ quản lý đạt trên 45%. Nội dung về giới và bình đẳng giới cũng được lồng ghép vào chương trình, sách giáo khoa và hoạt động giảng dạy.

Báo cáo đánh giá mức độ sẵn sàng về trí tuệ nhân tạo của Việt Nam do UNESCO công bố ghi nhận phụ nữ chiếm khoảng 45% lực lượng nghiên cứu, thuộc nhóm tỷ lệ cao ở châu Á. Phụ nữ ngày càng hiện diện với tư cách người học, nhà nghiên cứu và chủ thể tạo ra tri thức.

Xã hội học tập, khoa học cơ bản, khoa học mở và bình đẳng giới cùng hướng tới yêu cầu mở rộng quyền tiếp cận và năng lực sáng tạo. Dấu ấn của UNESCO thể hiện trong sự dịch chuyển của tri thức từ nhà trường đến cộng đồng, từ tiếp nhận kiến thức đến tham gia nghiên cứu. Thông qua quá trình lựa chọn, thể chế hóa và tổ chức thực hiện, Việt Nam đang chuyển quyền học tập thành năng lực phát triển của toàn xã hội.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO: Khơi nguồn nội lực văn hóa, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 3: Hội nhập quốc tế bằng bản lĩnh Việt Nam ảnh 7

Cơ hội học tập và tiếp cận tri thức được mở rộng, tri thức ấy cũng dần thay đổi cách con người nhìn nhận môi trường sống của mình. Trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên, quá trình hợp tác với UNESCO đã góp phần đưa vào Việt Nam một cách tiếp cận rộng hơn, đặt từng loài, sinh cảnh, hoạt động của con người và những nhu cầu phát triển trong cùng một hệ sinh thái.

Theo PGS.TS Lê Xuân Cảnh, nguyên Viện trưởng Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, UNESCO đã tập hợp tri thức, kinh nghiệm cùng những phương pháp được kiểm chứng tại nhiều quốc gia để xây dựng các tiêu chí có giá trị tham chiếu toàn cầu. Mỗi nước có điều kiện tự nhiên, pháp luật và cách thức quản lý riêng, song những tiêu chí chung tạo ra một khuôn khổ để hoạt động bảo tồn được so sánh, đánh giá và từng bước nâng cao chất lượng.

Cách tiếp cận này thể hiện rõ qua hệ thống di sản thiên nhiên thế giới và các khu dự trữ sinh quyển. Nếu di sản thiên nhiên hướng sự quan tâm tới những giá trị nổi bật về địa chất, cảnh quan, hệ sinh thái và đa dạng sinh học, khu dự trữ sinh quyển đặt những giá trị ấy trong quan hệ với nghiên cứu khoa học, giáo dục và phát triển bền vững.

Cấu trúc vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp tạo điều kiện để những khu vực cần bảo vệ nghiêm ngặt được kết nối với không gian sinh sống, sản xuất của con người. Bảo tồn từ đó không còn dừng ở việc khoanh một ranh giới rồi ngăn mọi tác động bên ngoài. Vấn đề được đặt ra là con người có thể sử dụng tài nguyên như thế nào để không làm suy giảm khả năng vận hành và phục hồi của hệ sinh thái.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO: Khơi nguồn nội lực văn hóa, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 3: Hội nhập quốc tế bằng bản lĩnh Việt Nam ảnh 8

Từ một chương trình khoa học liên chính phủ của UNESCO, mô hình khu dự trữ sinh quyển vì thế đã đi vào pháp luật Việt Nam bằng những quy định về phân vùng, đánh giá, tổ chức quản lý và trách nhiệm thực hiện. Các tiêu chí quốc tế không được sao chép nguyên trạng, mà được đặt trong hệ thống pháp luật và bộ máy quản lý của Việt Nam.

Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An cho thấy quá trình chuyển hóa ấy trong thực tế. Được UNESCO công nhận ngày 26/5/2009, khu dự trữ có tổng diện tích 33.475 ha, kết nối quần đảo Cù Lao Chàm với hệ sinh thái cửa sông Thu Bồn và không gian văn hóa Hội An. Hai vùng lõi cùng vùng đệm, vùng chuyển tiếp tạo nên một chỉnh thể gồm biển, đảo, cửa sông, đất ngập nước và nơi cư trú lâu đời của con người.

Kết quả khảo sát được công bố năm 2024 cho thấy Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm có hơn 311 ha rạn san hô với khoảng 300 loài, độ phủ trung bình đạt 41%; 50 ha thảm cỏ biển, hơn 270 loài cá cùng nhiều loài rong biển, thân mềm và động vật da gai. Hoạt động giám sát được thực hiện tại các mặt cắt dưới biển và những vùng nuôi cấy san hô, cung cấp dữ liệu để theo dõi biến động của hệ sinh thái.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO: Khơi nguồn nội lực văn hóa, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 3: Hội nhập quốc tế bằng bản lĩnh Việt Nam ảnh 9

Sau chu kỳ mười năm, báo cáo định kỳ của Cù Lao Chàm – Hội An được cơ chế MAB của UNESCO ghi nhận đáp ứng các tiêu chí của Khung pháp lý Mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đầu năm 2026, UBND thành phố Đà Nẵng tiếp tục thành lập Ban quản lý khu dự trữ sinh quyển theo mô hình liên ngành, đặt hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học, giáo dục và quản lý môi trường trong một cơ chế phối hợp chung.

Nội dung - Thiết kế: Nguyệt Linh

TIN LIÊN QUAN
Năm học mới 2026-2027: Tạo nền tảng để giáo dục Thủ đô chuyển biến thực chất
Năm học mới 2026-2027: Tạo nền tảng để giáo dục Thủ đô chuyển biến thực chất
(Ngày Nay) - Năm học 2026-2027 bắt đầu trong bối cảnh ngành Giáo dục Thủ đô đã cơ bản hoàn tất việc sắp xếp mạng lưới trường lớp, ổn định tổ chức và chuẩn bị các điều kiện dạy, học. Từ cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo đến đổi mới quản trị và nâng cao chất lượng giáo dục, những bước chuẩn bị đồng bộ đang tạo nền tảng để các nhà trường bước vào năm học mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng và hiệu quả.
Vở kịch "Tiếng hát nửa đêm" lấy bối cảnh một gánh hát Nam bộ xưa là tác phẩm đầu tay của đạo diễn Hoàng Phúc với ê-kíp sáng tạo trẻ
Kịch 5B tiếp tục tạo cơ hội cho sáng tạo trẻ
(Ngày Nay) -Những ngày đầu tháng 9, Nhà hát Kịch Sân khấu Nhỏ (Kịch 5B) ra mắt vở kịch mang màu sắc hài - trinh thám pha chút kinh dị Tiếng hát nửa đêm với ê-kíp sáng tạo trẻ. Trong đó, đánh dấu bước ngoặt quan trọng cho đạo diễn trẻ Hoàng Phúc khi trình làng tác phẩm sân khấu chuyên nghiệp đầu tay.
Toàn cảnh buổi làm việc. Ảnh: Bộ Tài chính
Mở rộng dư địa hợp tác mới giữa Việt Nam và Liên bang Nga
(Ngày Nay) - Theo tin từ Bộ Tài chính, ngày 3/9 (theo giờ địa phương), bên lề Diễn đàn Kinh tế phương Đông EEF 2026 tại Vladivostok, Liên bang Nga, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã có cuộc gặp song phương với người đứng đầu Cộng hòa Sakha (Yakutia), Liên bang Nga, ông Aysen Sergeyevich Nikolayev.
Trí tuệ nhân tạo bắt đầu thay thế khả năng cảm nhận xã hội của giới trẻ
Trí tuệ nhân tạo bắt đầu thay thế khả năng cảm nhận xã hội của giới trẻ
(Ngày Nay) - Năm 2023, khi ChatGPT lần đầu xuất hiện, tôi - một giáo sư đại học - nghĩ rằng sinh viên chỉ sử dụng công cụ này để giảm bớt áp lực học tập. Nhưng sau đó, tôi nhận ra họ đang sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) không chỉ trong học tập mà còn trong hầu hết các mối quan hệ xã hội - Giáo sư Clay Shirky cho biết.
UNESCO hỗ trợ sáng kiến phục hồi và nâng cao năng lực ứng phó cháy rừng Hyrcanian
UNESCO hỗ trợ sáng kiến phục hồi và nâng cao năng lực ứng phó cháy rừng Hyrcanian
(Ngày Nay) - Tháng 11/2025, hàng loạt vụ cháy rừng xảy ra tại Khu bảo tồn Chaharbagh, tỉnh Mazandaran, Iran, đe dọa những cánh rừng Hyrcanian cổ đại – một trong những hệ sinh thái rừng lâu đời nhất thế giới. Trước những rủi ro ngày càng gia tăng, UNESCO đang hỗ trợ Iran tăng cường năng lực phòng ngừa, chuẩn bị và ứng phó với cháy rừng.
Đưa Công viên địa chất Khanbogd – Shar Tsav vươn ra quốc tế
Đưa Công viên địa chất Khanbogd – Shar Tsav vươn ra quốc tế
(Ngày Nay) - Công viên địa chất Khanbogd – Shar Tsav được giới thiệu tới công chúng trong nước và quốc tế tại hai sự kiện lớn ở Ulaanbaatar: Lễ hội Văn hóa Thế giới Du mục 2026 và Hội nghị lần thứ 17 các Bên tham gia Công ước Liên Hợp Quốc về Chống sa mạc hóa (UNCCD COP17).