Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 4: Đột phá pháp lý trong chuỗi sáng tạo

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 4: Đột phá pháp lý trong chuỗi sáng tạo

Từ ý tưởng đến thị trường là hành trình đi qua quyền sở hữu trí tuệ, định giá, vốn, sản xuất, phân phối và giao dịch. Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng để kết nối những công đoạn đang phân tán, đưa nguồn thu trở lại nuôi dưỡng sáng tạo, đồng thời bảo đảm giá trị kinh tế đi cùng bản sắc, quyền tiếp cận và lợi ích cộng đồng.

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 4: Đột phá pháp lý trong chuỗi sáng tạo ảnh 1

Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đặt ra nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa. Cụ thể hóa chủ trương này, năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Năm 2025, Quyết định số 2486/QĐ-TTg tiếp tục phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Cùng với các chiến lược, lĩnh vực này từng bước được điều chỉnh bằng pháp luật chuyên ngành về điện ảnh, xuất bản, di sản văn hóa, du lịch và sở hữu trí tuệ.

Yêu cầu xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ trở nên cấp thiết khi Nghị quyết số 80-NQ/TW chỉ ra rằng công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; việc thể chế hóa còn chậm, chính sách và pháp luật chưa đồng bộ. Thực hiện Nghị quyết, ngày 24/2/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP, giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì xây dựng dự án luật về công nghiệp văn hóa.

Tại Hội thảo lấy ý kiến Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực miền Bắc, đồng chí Nguyễn Huy Dũng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lý giải:

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 4: Đột phá pháp lý trong chuỗi sáng tạo ảnh 2

Theo cách phân định này, việc cấp phép, quy định điều kiện hoạt động và áp dụng các biện pháp quản lý tiếp tục thực hiện theo luật chuyên ngành. Luật mới tập trung vào phần còn thiếu như tạo cơ chế kết nối người sáng tạo, tổ chức văn hóa, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các chủ thể hỗ trợ trong quá trình hình thành, khai thác giá trị.

Cơ quan soạn thảo cũng lựa chọn nguyên tắc không bổ sung biện pháp quản lý mới. Một số thủ tục vẫn cần thiết để xác định đúng đối tượng hưởng hỗ trợ, nhưng không mang tính chất cấp phép hoạt động. Các cơ chế được định hướng vận hành tự động trên cơ sở điều kiện công khai, đi cùng hậu kiểm của cơ quan nhà nước.

Ranh giới này quyết định luật mới tạo thuận lợi hay làm dày thêm thủ tục. Khi tiêu chí thụ hưởng rõ ràng, dữ liệu được chia sẻ và trách nhiệm mỗi bên được xác định trước, chủ thể có thể biết mình có thuộc diện hỗ trợ hay không. Nếu mỗi chính sách lại kéo theo một bộ hồ sơ, cơ quan xác nhận và quy trình công nhận riêng, cơ chế thúc đẩy sẽ trở thành thêm một tầng hành chính.

Khoảng trống cần xử lý vì thế nằm ở mối liên hệ giữa các ngành. Một sản phẩm sáng tạo có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật về quyền tác giả, định giá, tín dụng, đầu tư, sản xuất, phân phối và giao dịch. Mỗi luật giải quyết một nhóm quan hệ, nhưng chưa có khuôn khổ nối toàn bộ hành trình từ xác lập quyền, định giá, tiếp cận vốn đến đưa sản phẩm ra thị trường và tạo nguồn thu.

Từ góc nhìn hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, TS. Lê Tùng Sơn, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhận định:

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 4: Đột phá pháp lý trong chuỗi sáng tạo ảnh 3

Như vậy, luật chỉ có ý nghĩa khi xử lý được những quan hệ nằm giữa các lĩnh vực, tạo nền tảng để chính sách về tài sản trí tuệ, vốn, nhân lực, hạ tầng và thị trường tiếp nối nhau. Nếu chỉ tập hợp các ưu đãi riêng lẻ, những điểm đứt của chuỗi giá trị vẫn còn nguyên.

Thảo luận về sự ra đời của Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, GS.TS Đỗ Văn Đại, Phó Hiệu trưởng kiêm Trưởng bộ môn Luật Dân sự tại Trường Đại học Luật TP.HCM, lưu ý dự luật có phạm vi rộng và giao thoa với nhiều luật liên quan, đặc biệt là pháp luật sở hữu trí tuệ. Luật phải đủ rộng để tạo cơ chế liên ngành, nhưng ranh giới với từng luật chuyên ngành cần rõ ràng. Theo đó, quy định lại nội dung đã có dễ làm phát sinh cách hiểu khác nhau; quy định quá chung lại không đủ sức tháo gỡ điểm nghẽn.

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 4: Đột phá pháp lý trong chuỗi sáng tạo ảnh 4

Khoảng trống liên ngành hiện rõ nhất trên hành trình từ sáng tạo đến sản xuất. Một tác phẩm có thể mang giá trị văn hóa và tiềm năng thương mại, nhưng các quyền gắn với tác phẩm chưa mặc nhiên trở thành tài sản có thể định giá, giao dịch hay huy động vốn. Muốn đi tiếp, trước hết phải xác định chủ thể quyền, phạm vi khai thác, tình trạng ràng buộc hoặc tranh chấp của tài sản.

Vấn đề cần giải quyết không phải bổ sung thủ tục xác nhận bên cạnh pháp luật sở hữu trí tuệ, mà là xây dựng hạ tầng dữ liệu để nhận diện và truy xuất quá trình khai thác. Dữ liệu chỉ hỗ trợ giao dịch, không thay thế căn cứ xác lập quyền; đồng thời phải đủ tin cậy, thường xuyên được cập nhật và có khả năng liên thông.

Trao đổi với Ngày Nay, TS. Nguyễn Thị Quý Phương, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Báo chí và Truyền thông, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương, nêu quan điểm:

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 4: Đột phá pháp lý trong chuỗi sáng tạo ảnh 5

Khi chủ thể và khả năng khai thác quyền đã rõ, định giá trở thành phép thử tiếp theo. Giá trị tài sản trí tuệ phụ thuộc vào khả năng tạo doanh thu, nhu cầu thị trường và năng lực tổ chức khai thác. Theo TS. Nguyễn Thị Quý Phương, muốn định giá phải nhìn thấy hoạt động và dòng tiền gắn với sản phẩm, doanh nghiệp và quyền khai thác. Dữ liệu về quyền phải là đầu vào đáng tin cậy; kết quả định giá cũng cần đủ độ tin cậy để nhà đầu tư và tổ chức tín dụng sử dụng. Nếu mỗi bên theo một nguồn dữ liệu và chuẩn đánh giá khác nhau, tài sản đã được nhận diện vẫn khó được thị trường tài chính chấp nhận.

Tín dụng là nơi kiểm chứng rõ nhất độ tin cậy ấy. Pháp luật có thể cho phép góp vốn hoặc bảo đảm bằng tài sản trí tuệ, nhưng ngân hàng không vì thế đương nhiên cấp khoản vay. Tổ chức tín dụng vẫn phải đánh giá khả năng trả nợ, dòng tiền, tính thanh khoản và khả năng xử lý quyền khi rủi ro xảy ra. Một mức giá trên giấy chưa đủ biến tài sản vô hình thành nguồn vốn.

Muốn khơi thông tín dụng, cần có tổ chức định giá đủ năng lực, cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm, phương thức xử lý tài sản và công cụ chia sẻ rủi ro. Luật không thể yêu cầu ngân hàng bỏ qua nguyên tắc an toàn tín dụng; phần việc của luật là giảm sự bất định, xác định trách nhiệm và tạo cơ sở hình thành sản phẩm vốn phù hợp với công nghiệp văn hóa.

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 4: Đột phá pháp lý trong chuỗi sáng tạo ảnh 6

Tiếp cận được vốn cũng chưa đồng nghĩa tài sản trí tuệ sẽ trở thành sản phẩm. Quá trình sản xuất còn cần nhân lực có kỹ năng liên ngành, hạ tầng kỹ thuật và năng lực quản trị dự án. Công nghiệp văn hóa kết hợp nghệ thuật, công nghệ, kinh doanh, pháp lý và truyền thông, trong khi chương trình đào tạo chưa theo kịp nhu cầu sản xuất đang thay đổi nhanh.

Từ thực tiễn doanh nghiệp, bà Bùi Việt Hà, Giám đốc Đối ngoại và Quan hệ công chúng của Tập đoàn Yeah1, đề xuất tăng liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo. Nhà trường có thể trang bị kiến thức nền, nhưng người học cần tiếp cận dự án, công nghệ và nhịp làm việc thực tế. Doanh nghiệp hiểu nhu cầu kỹ năng, song thiếu động lực đầu tư dài hạn nếu trách nhiệm và lợi ích giữa các bên chưa rõ.

Chính sách nhân lực vì vậy cần tạo điều kiện để nhà trường và doanh nghiệp cùng xây dựng chương trình, đào tạo theo dự án và mở rộng cơ hội thực hành tại đơn vị sản xuất. Luật không cần ấn định cứng từng mô hình, nhưng phải mở cơ chế đưa nhu cầu nhân lực của thị trường vào nội dung đào tạo, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của nhà trường, doanh nghiệp và người học.

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 4: Đột phá pháp lý trong chuỗi sáng tạo ảnh 7

Sản phẩm ra đời mới chỉ hoàn tất phía cung của chuỗi. Để đi vào đời sống, sản phẩm còn phải tìm được kênh giao dịch, công chúng và người mua. Vì vậy, khuôn khổ phát triển thị trường phải đồng thời nuôi dưỡng nguồn cung dựa trên tài sản trí tuệ và bản sắc Việt Nam, xây dựng hạ tầng giao dịch, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thương hiệu, thúc đẩy tiêu dùng và xúc tiến xuất khẩu.

Thị trường văn hóa đã có nhiều kênh phân phối, từ rạp chiếu, không gian biểu diễn, hệ thống phát hành đến nền tảng số. Tuy nhiên, quyền khai thác sản phẩm thường được giao dịch riêng lẻ qua hợp đồng và đơn vị trung gian. Trong khi đó, một tác phẩm có thể tiếp tục tạo giá trị bằng việc trình chiếu, biểu diễn, phân phối, chuyển thể hoặc cấp phép sử dụng. Muốn khai thác các lớp giá trị ấy, các bên phải tìm được nhau, xác định đúng chủ thể và phạm vi quyền.

Khoảng trống này đặt ra nhu cầu về sàn giao dịch sản phẩm công nghiệp văn hóa. Đây là hạ tầng kết nối chủ thể nắm giữ tài sản với bên có nhu cầu khai thác, cho phép giao dịch cả sản phẩm, quyền sở hữu trí tuệ và quyền khai thác trên cơ sở thông tin có thể kiểm chứng. Đơn vị vận hành phải xác thực chủ thể, tài sản, công khai quy chế, lưu giữ dữ liệu và cảnh báo rủi ro. Các yêu cầu này không được biến thành thủ tục xác lập lại quyền. Điều quan trọng là bên mua biết mình nhận được quyền gì, trong phạm vi nào và từ chủ thể có đủ thẩm quyền hay không.

Từ thực tiễn doanh nghiệp điện ảnh, bà Phan Thị Diệu Hoa, Trưởng phòng Pháp chế CJ CGV Việt Nam, đề xuất mở rộng chức năng của hệ thống rạp chiếu phim để phổ biến chương trình livestream, hòa nhạc, biểu diễn nghệ thuật, thể thao, eSports và nội dung số. Việc tận dụng không gian, thiết bị, hệ thống bán vé và mạng lưới khán giả hiện có có thể đưa nhiều loại sản phẩm đến công chúng mà không phải xây dựng lại toàn bộ hạ tầng.

Khi sản phẩm lưu thông, dữ liệu giao dịch trở thành mắt xích quay lại đầu chuỗi. Thông tin về mức giá, phạm vi khai thác, nhu cầu và doanh thu vừa giúp theo dõi việc thực hiện quyền, vừa tạo căn cứ cho định giá, cấp vốn và đầu tư vào sản phẩm tiếp theo. Nếu dữ liệu thị trường không được đưa trở lại hệ thống, việc định giá vẫn phụ thuộc nhiều vào dự đoán và kinh nghiệm riêng lẻ.

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 4: Đột phá pháp lý trong chuỗi sáng tạo ảnh 8

Minh bạch giao dịch còn quyết định nguồn thu có trở về đúng chủ thể hay không. Phân tích của TS. Lê Tùng Sơn về khoảng cách giữa bảo hộ quyền và khai thác thương mại tài sản trí tuệ cho thấy việc quyền được pháp luật ghi nhận mới là điểm khởi đầu. Người sáng tạo cần biết tài sản được khai thác ở đâu, trong phạm vi nào và tạo nguồn thu ra sao; doanh nghiệp, nền tảng và đơn vị trung gian phải chịu trách nhiệm về thông tin, thanh toán và dấu vết giao dịch.

Việc thực hiện hợp đồng và xử lý vi phạm tiếp tục theo pháp luật sở hữu trí tuệ, pháp luật về hợp đồng cùng các cơ chế giải quyết tranh chấp hiện hành. Luật mới cần bảo đảm khả năng truy xuất và xác định trách nhiệm của chủ thể trung gian để các hệ thống ấy vận hành trong cùng một chuỗi. Nếu thiếu những điều kiện này, doanh thu có thể tăng nhưng lợi ích vẫn chưa được phân chia minh bạch.

Nguồn thu cũng chưa tự động khép lại vòng sáng tạo. Với người sáng tạo, đó là tiền bản quyền, thù lao hoặc lợi ích theo thỏa thuận; với doanh nghiệp, là nguồn lực cho sản phẩm tiếp theo. Vốn và lợi ích thu hồi từ dự án sử dụng nguồn lực công cần được quản lý minh bạch; thiết chế văn hóa công cộng cũng cần cơ chế dùng nguồn thu hợp pháp để nâng cấp hoạt động và phục vụ công chúng. Điều này không có nghĩa mọi doanh thu đều phải tái đầu tư, mà cần mở đường để giá trị từ thị trường quay lại nuôi dưỡng sáng tạo, sản xuất và tiếp cận văn hóa.

Doanh thu và xuất khẩu vì thế chưa thể là thước đo duy nhất. Thu nhập, việc làm và quy mô giao dịch phản ánh năng lực kinh tế; bản sắc sản phẩm, khả năng tiếp cận của các nhóm dân cư, sức sáng tạo và tác động cộng đồng thể hiện giá trị văn hóa – xã hội. Sản phẩm được hỗ trợ bằng nguồn lực công càng phải chứng minh giá trị văn hóa hoặc lợi ích xã hội và có con đường đến đúng công chúng./.

Nội dung - Thiết kế: Nguyệt Linh

TIN LIÊN QUAN
Lập trạm liên lạc khẩn cấp gần biên giới hai nước Nepal và Trung Quốc:
Lập trạm liên lạc khẩn cấp gần biên giới hai nước Nepal và Trung Quốc:
(Ngày Nay) - Truyền thông Trung Quốc đưa tin, trạm liên lạc khẩn cấp đầu tiên ở Cảng Cát Long thuộc Khu tự trị Tây Tạng, gần biên giới với Nepal, đã đi vào hoạt động lúc 13h30 ngày 30/8 theo giờ địa phương, nhằm hỗ trợ các nỗ lực giải cứu nạn nhân trận lũ quét xảy ra 4 ngày trước.
Thuyền bơi nam của thôn Văn Xá và Lộc Hạ vẫn tiếp tục thi đấu sau sự việc gây mất hình ảnh lễ hội. (Ảnh: Hoàng Anh)
Quảng Trị: Xô xát tại lễ hội, một thuyền bơi nam bị hạ thành tích từ hạng A xuống hạng B
(Ngày Nay) - Ngày 30/8, trong quá trình tổ chức nội dung bơi vòng loại tại lễ hội đua, bơi thuyền truyền thống trên sông Kiến Giang năm 2026 (Quảng Trị), thuyền bơi nam của thôn Lộc Hạ và thôn Văn Xá xảy ra xô xát dẫn đến một số vận động viên dùng mái chèo đánh nhau làm một người rơi xuống sông.
Chương trình tiết mục văn nghệ thể hiện khát vọng phát triển của người Mông vùng cao.
Rộn ràng Lễ hội Mùa vàng tại Mù Cang Chải
(Ngày Nay) - Tối 30/8, Lễ hội Mùa vàng 2026 với chủ đề “Sắc vàng non cao - Khát vọng phát triển” đã khai mạc tại xã Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai nhân dịp Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh (2/9/1945 - 2/9/2026). Đây không chỉ là cơ hội để quảng bá hình ảnh thiên nhiên, con người Mù Cang Chải mà còn là nhịp cầu kết nối, kiến tạo hệ sinh thái du lịch chuyên nghiệp, bền vững, mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới cho địa phương.
Từ cộng gộp cơ học đến chuyển biến thực chất tại Chương trình mục tiêu Quốc gia
Từ cộng gộp cơ học đến chuyển biến thực chất tại Chương trình mục tiêu Quốc gia
(Ngày Nay) - Tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, với 95,40% đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.