Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 3: Kiểm chứng quyết tâm chính trị bằng đời sống văn hóa

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 3: Kiểm chứng quyết tâm chính trị bằng đời sống văn hóa

Sáu tháng sau khi Nghị quyết số 80-NQ/TW được ban hành, cơ chế chỉ đạo, chương trình hành động và hành lang pháp lý đã bước đầu hình thành từ Trung ương đến địa phương. Chuyển động ấy cũng bộc lộ khoảng trống về nguồn lực, dữ liệu, nhân lực, sản phẩm và phối hợp thực thi. Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống không thể dừng ở việc hoàn thành văn bản, mà phải được kiểm chứng bằng sản phẩm văn hóa, năng lực sáng tạo và những giá trị mà Nhân dân thực sự được thụ hưởng.

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 3: Kiểm chứng quyết tâm chính trị bằng đời sống văn hóa ảnh 1

Sáu tháng chưa đủ để đánh giá toàn diện một nghị quyết có tầm nhìn chiến lược, nhưng đủ để nhận diện phản ứng ban đầu của hệ thống qua việc thiết lập cơ chế chỉ đạo, ban hành văn bản, bố trí nguồn lực và triển khai nhiệm vụ.

Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ghi nhận khối lượng công việc lớn đã được hoàn thành. Cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương được thiết lập. Toàn bộ bộ, ngành, địa phương đã tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết số 80-NQ/TW; 34/34 tỉnh, thành phố ban hành chương trình hành động. Nghị quyết qua đó đã đi từ truyền đạt chủ trương vào chương trình công tác của toàn hệ thống.

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 3: Kiểm chứng quyết tâm chính trị bằng đời sống văn hóa ảnh 2

Tuy nhiên, quá trình triển khai cho thấy mức độ sẵn sàng giữa các khối cơ quan vẫn chưa đồng đều. Trong khi 34/34 tỉnh, thành phố đã ban hành chương trình hành động, khối bộ, ngành và cơ quan Trung ương mới có 16/22 đơn vị hoàn thành, đạt 72,7%. Chi ngân sách cho văn hóa hiện chiếm khoảng 1,5% tổng chi ngân sách nhà nước, thấp hơn mức tối thiểu 2% mà Nghị quyết đặt ra. Tiến độ xây dựng chương trình phản ánh năng lực tổ chức, còn tỷ lệ chi cho thấy nguồn lực thực hiện chưa theo kịp mục tiêu.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, từ chương trình đến tác động thực tế còn lớn. Nhận định này không phủ nhận những kết quả của sáu tháng triển khai, mà xác định đúng giới hạn của giai đoạn khởi động. Chương trình hành động là điều kiện cần nhưng chưa thể thay thế sản phẩm. Tỷ lệ chi ngân sách phản ánh quy mô đầu vào nhưng chưa cho thấy nguồn lực đã tạo ra giá trị cụ thể cho người sáng tạo, cộng đồng và công chúng.

Khoảng cách ấy hiện rõ khi chủ trương đi xuống tầng thực thi. Quyết sách vĩ mô phải được chuyển thành công việc cụ thể, có người thực hiện, có căn cứ bố trí và chi trả nguồn lực, đồng thời kết nối được các chủ thể tham gia tạo ra sản phẩm. Những vướng mắc trong từng lĩnh vực vì thế phản ánh năng lực chuyển hóa chính sách của cả hệ thống.

Từ thực tế nghiên cứu và tham gia các dự án ứng dụng di sản, PGS.TS Trần Trọng Dương, Giám đốc Trung tâm Công nghiệp văn hóa, Trường Ngoại ngữ – Du lịch, Đại học Công nghiệp Hà Nội, nhìn nhận các quyết sách hiện nay được xây dựng đúng hướng, khá đồng bộ và đã tạo động lực cho các lĩnh vực văn hóa phát triển. Ông đánh giá: “Hành lang pháp lý bước đầu đã được hình thành. Đây là kết quả quan trọng nhất của giai đoạn này”.

Tuy nhiên trong quá trình đi xuống tầng thực thi, độ thông suốt của hệ thống bắt đầu được thử thách. PGS.TS Trần Trọng Dương chỉ ra: “Từ luật, nghị định, thông tư đến hệ thống vị trí việc làm và đơn giá cho nhân sự ngành văn hóa vẫn còn một khoảng cách cần tiếp tục điều chỉnh cho phù hợp với thực tế”.

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 3: Kiểm chứng quyết tâm chính trị bằng đời sống văn hóa ảnh 3

Nhận định trên của PGS.TS Trần Trọng Dương cũng được đặt trong một bức tranh rộng hơn tại cuộc làm việc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong ngày 19/8, khi báo cáo của Bộ thừa nhận chất lượng nhân lực bảo tồn, bảo tàng chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là ở các lĩnh vực giám tuyển, giáo dục bảo tàng, nghiên cứu công chúng, truyền thông, dữ liệu số và quản trị hiện đại.

Với kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy và số hóa mỹ thuật truyền thống, TS. Trần Hậu Yên Thế, Chủ nhiệm Bộ môn Nghệ thuật thị giác, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng các hoạt động ban đầu phần lớn dựa vào nỗ lực của cá nhân và những nhóm nhỏ.

Cách làm này có thể khởi tạo sáng kiến nhưng khó tạo ảnh hưởng rộng và bền vững nếu năng lực phân tán không được kết nối, xác lập và chuyên môn hóa. Ông nhấn mạnh: “Điều quan trọng là phải có sự kết hợp giữa doanh nghiệp, nhà trường, đơn vị quản lý văn hóa, cùng với sự hỗ trợ từ cơ chế và chính sách”.

Như vậy có thể thấy, bên cạnh quá trình truyền dẫn chính sách từ cấp ban hành xuống đơn vị thực hiện, cần có cơ chế liên kết cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu, thiết chế văn hóa và doanh nghiệp. Thiếu sự phối hợp đó, các chỉ đạo, sáng kiến dễ dừng ở những nỗ lực riêng lẻ, chưa thể trở thành năng lực chung của toàn hệ thống.

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 3: Kiểm chứng quyết tâm chính trị bằng đời sống văn hóa ảnh 4

Trong phát biểu ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra bốn khoảng trống, bao gồm: sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trên môi trường số còn hạn chế; di sản chưa được chuyển hóa hiệu quả thành dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo; chưa có nhiều sản phẩm văn hóa đủ sức cạnh tranh; thể chế và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa còn thiếu đồng bộ.

Bốn khoảng trống nằm ở những khía cạnh khác nhau nhưng liên hệ chặt chẽ. Bởi dữ liệu không tạo được tri thức sẽ khó trở thành sản phẩm; sản phẩm thiếu nội dung và sức hấp dẫn khó đi đến công chúng; khi thị trường chưa được mở rộng, nguồn lực cũng khó quay trở lại nuôi dưỡng sáng tạo.

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 3: Kiểm chứng quyết tâm chính trị bằng đời sống văn hóa ảnh 5

Một nhiệm vụ cấp bách đang được đặt ra là hoàn thành số hóa toàn bộ di sản được xếp hạng cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt trong năm 2026. Tuy nhiên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng cảnh báo, một di sản không thể được coi là đã số hóa chỉ vì đã được chụp ảnh, quét tài liệu hoặc đưa lên một trang thông tin. Cách làm hình thức có thể làm tăng số lượng hồ sơ nhưng chưa tạo ra dữ liệu có khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng.

Từ thực tiễn tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, TS. Nguyễn Văn Tú, Phó Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, cho rằng

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 3: Kiểm chứng quyết tâm chính trị bằng đời sống văn hóa ảnh 6

Dự án số hóa 82 bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã được ghi danh là di sản tư liệu thế giới cho thấy rõ các thang bậc giá trị của dữ liệu. Mục tiêu ban đầu của dự án mới chỉ là phục vụ quản lý, nghiên cứu, đối chiếu và dự phòng tư liệu cho việc phục dựng khi xảy ra sự cố, và một phần dữ liệu này có thể được dùng để giới thiệu, truyền thông. Quá trình chuyển hóa thành nguồn lực tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám chỉ thực sự bắt đầu khi cơ sở dữ liệu tiếp tục được khai thác để tạo ra sản phẩm mới phục vụ công chúng.

Dữ liệu đầy đủ và có khả năng kết nối vẫn cần một lớp tri thức để trở thành nội dung. Ở giai đoạn này, PGS.TS Trần Trọng Dương gọi người làm nội dung là “linh hồn của các triển lãm số, show diễn hay tác phẩm”. Ông nhận định không thể thiếu vắng sự tham gia của giám tuyển, đặc biệt là giám tuyển số, trong việc xây dựng ý tưởng, tổ chức nội dung, kết nối tư liệu, định hình phương thức truyền thông và mô hình kinh tế. Đây là lớp trung gian chuyển dữ liệu thành câu chuyện văn hóa mà công chúng có thể tiếp cận. Thiếu lớp chuyển hóa này, dù đầu tư công nghệ bao nhiêu vẫn khó tạo ra sản phẩm văn hóa vừa có nền tảng khoa học, vừa có sức sáng tạo.

Nếu tại các thiết chế văn hóa, trọng tâm là chuyển dữ liệu thành tri thức và trải nghiệm. Thì với làng nghề, sức cạnh tranh còn phụ thuộc vào khả năng truyền tải lịch sử, kỹ thuật và bản sắc của sản phẩm. Nghệ nhân Hà Thị Vinh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, chỉ ra rằng:

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 3: Kiểm chứng quyết tâm chính trị bằng đời sống văn hóa ảnh 7

Chuyển đổi số ở làng nghề vì thế không dừng ở việc mở gian hàng trực tuyến, mà còn bao gồm năng lực kể câu chuyện văn hóa của sản phẩm. Tại Bát Tràng, các nhà sản xuất và doanh nghiệp đang được hướng dẫn quay video, thuyết trình, phát trực tiếp và sáng tạo nội dung. Những người có khả năng tiếp cận công nghệ được đào tạo để hỗ trợ các chủ thể khác trong làng. Đây mới là hoạt động thử nghiệm, nhưng mang đến kỳ vọng lan tỏa danh xưng Bát Tràng trên không gian số.

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 3: Kiểm chứng quyết tâm chính trị bằng đời sống văn hóa ảnh 8

Tỷ lệ về chương trình hành động, số hóa và phân bổ ngân sách vẫn cần được theo dõi, nhưng trọng tâm đánh giá cần chuyển sang những thay đổi thực chất sau mỗi chương trình, dự án hoặc khoản đầu tư. Cũng trong phát biểu ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu lấy dữ liệu, tiêu chuẩn và kết quả thực tiễn làm căn cứ đánh giá, điều hành.

Với tài nguyên văn hóa số, kết quả phải được đo bằng khả năng tạo lập tri thức, hình thành sản phẩm sáng tạo và đóng góp cho giáo dục, khoa học, công nghệ, công nghiệp văn hóa. Số lượng nội dung cần được đặt cùng mức độ nhận diện, sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa và tác động đến nhận thức, tình cảm, hành vi văn hóa của công chúng.

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 3: Kiểm chứng quyết tâm chính trị bằng đời sống văn hóa ảnh 9

Mỗi dự án số hóa vì thế cần được kiểm tra từ định danh, nguồn gốc và chuẩn kỹ thuật đến khả năng tìm kiếm, chia sẻ, kết nối và tái sử dụng. Việc đánh giá phải xác định dữ liệu đã phục vụ quản lý, nghiên cứu, giáo dục hoặc phát triển sản phẩm cụ thể. Một kho dữ liệu lớn nhưng đóng kín, khó khai thác chưa thể được xem là nguồn lực đã đi vào đời sống.

Khả năng khai thác dữ liệu còn phụ thuộc vào đội ngũ nghiên cứu, giải nghĩa và kiến tạo nội dung. Từ ý kiến của PGS.TS Trần Trọng Dương về vị trí của nhà nghiên cứu, người làm nội dung và giám tuyển số, quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách cần xác lập rõ vai trò của lực lượng này. Trong từng dự án, lao động trí tuệ phải trở thành nhiệm vụ cụ thể, gắn với đầu ra và được ghi nhận tương xứng. Nếu những đóng góp về nội dung chưa được xác định và ghi nhận đầy đủ, sản phẩm khó có chiều sâu khoa học, sức sáng tạo và tinh thần đóng góp.

Tác động cũng phải được đo tại chính những chủ thể mà chính sách hướng tới. Từ câu chuyện làng nghề của nghệ nhân Hà Thị Vinh, số tài khoản, video hoặc phiên phát trực tiếp mới phản ánh mức độ hoạt động. Kết quả thực chất nằm ở năng lực kể chuyện của nghệ nhân, khả năng giúp công chúng nhận biết giá trị văn hóa của sản phẩm, mức độ mở rộng thị trường và lợi ích trở lại với người sản xuất, cộng đồng làng nghề. Những kết quả này cần được theo dõi bằng dữ liệu thực tế, không thể suy ra từ sự hiện diện trên nền tảng số.

Ở phía người tiếp nhận, TS. Trần Hậu Yên Thế nhấn mạnh khả năng công nghệ thay đổi trải nghiệm của công chúng. Ông cho rằng:

Khơi thông sức mạnh văn hóa, bồi đắp Kỷ nguyên vươn mình | Kỳ 3: Kiểm chứng quyết tâm chính trị bằng đời sống văn hóa ảnh 10

Một sản phẩm số vì thế cần được đánh giá bằng giá trị giáo dục, mức độ hiểu biết được tạo ra và khả năng kết nối công chúng với di sản. Lượt đăng tải hoặc hiệu ứng kỹ thuật chỉ là những chỉ dấu ban đầu, chưa đủ chứng minh giá trị xã hội của sản phẩm.

Nhìn từ những yêu cầu trên, việc đánh giá mỗi chương trình, dự án hoặc khoản đầu tư cần dựa trên các kết quả có thể kiểm chứng. Kết quả đó được thể hiện qua giá trị văn hóa được bảo tồn, dữ liệu được chuyển thành tri thức, sản phẩm được hình thành và tiếp cận công chúng, lợi ích mang lại cho nghệ nhân, nhà nghiên cứu, người sáng tạo và cộng đồng, cùng khả năng tạo nguồn lực cho vòng sáng tạo tiếp theo.

Khoảng cách mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra không thể thu hẹp bằng số lượng văn bản hay nhiệm vụ được đánh dấu hoàn thành. Sáu tháng đầu cho thấy Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đi vào hệ thống và được thực thi ở cấp độ cao nhất. Chặng tiếp theo phải đưa được xung lực này vào đời sống sáng tạo đương đại, thể hiện qua công việc của nhà nghiên cứu, năng lực của nghệ nhân, trải nghiệm của công chúng và giá trị của sản phẩm văn hóa. Chỉ khi tạo ra những kết quả có thể kiểm chứng và thụ hưởng, chính sách mới thực sự trở thành nguồn lực cho văn hóa phát triển./.

Nội dung - Thiết kế: Nguyệt Linh

TIN LIÊN QUAN
Lập trạm liên lạc khẩn cấp gần biên giới hai nước Nepal và Trung Quốc:
Lập trạm liên lạc khẩn cấp gần biên giới hai nước Nepal và Trung Quốc:
(Ngày Nay) - Truyền thông Trung Quốc đưa tin, trạm liên lạc khẩn cấp đầu tiên ở Cảng Cát Long thuộc Khu tự trị Tây Tạng, gần biên giới với Nepal, đã đi vào hoạt động lúc 13h30 ngày 30/8 theo giờ địa phương, nhằm hỗ trợ các nỗ lực giải cứu nạn nhân trận lũ quét xảy ra 4 ngày trước.
Thuyền bơi nam của thôn Văn Xá và Lộc Hạ vẫn tiếp tục thi đấu sau sự việc gây mất hình ảnh lễ hội. (Ảnh: Hoàng Anh)
Quảng Trị: Xô xát tại lễ hội, một thuyền bơi nam bị hạ thành tích từ hạng A xuống hạng B
(Ngày Nay) - Ngày 30/8, trong quá trình tổ chức nội dung bơi vòng loại tại lễ hội đua, bơi thuyền truyền thống trên sông Kiến Giang năm 2026 (Quảng Trị), thuyền bơi nam của thôn Lộc Hạ và thôn Văn Xá xảy ra xô xát dẫn đến một số vận động viên dùng mái chèo đánh nhau làm một người rơi xuống sông.
Chương trình tiết mục văn nghệ thể hiện khát vọng phát triển của người Mông vùng cao.
Rộn ràng Lễ hội Mùa vàng tại Mù Cang Chải
(Ngày Nay) - Tối 30/8, Lễ hội Mùa vàng 2026 với chủ đề “Sắc vàng non cao - Khát vọng phát triển” đã khai mạc tại xã Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai nhân dịp Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh (2/9/1945 - 2/9/2026). Đây không chỉ là cơ hội để quảng bá hình ảnh thiên nhiên, con người Mù Cang Chải mà còn là nhịp cầu kết nối, kiến tạo hệ sinh thái du lịch chuyên nghiệp, bền vững, mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới cho địa phương.
Từ cộng gộp cơ học đến chuyển biến thực chất tại Chương trình mục tiêu Quốc gia
Từ cộng gộp cơ học đến chuyển biến thực chất tại Chương trình mục tiêu Quốc gia
(Ngày Nay) - Tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, với 95,40% đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.