Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững”

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững”

Việc Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 80 thông qua Nghị quyết phát động “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững 2027 - 2036” theo sáng kiến do Việt Nam khởi xướng là một dấu mốc đáng chú ý trong tiến trình phát huy vai trò của văn hóa và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026, về phát triển văn hóa Việt Nam, xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đặt trong tiến trình từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết số 33-NQ/TW đến Nghị quyết số 80-NQ/TW và những định hướng của Đại hội XIV, có thể thấy đây là sự tiếp nối và phát triển nhất quán tư duy của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa. Bài viết phân tích những điều kiện để chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành nguồn lực phát triển, sức mạnh mềm và một thành tố của sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm tận dụng cơ hội của giai đoạn 2027 - 2036 để tạo bước phát triển thực chất cho văn hóa Việt Nam.

____________________

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” ảnh 1

Ngày 4/9/2026, tại Trụ sở Liên hợp quốc ở New York, Hoa Kỳ Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 80 thông qua Nghị quyết phát động “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững”, tuyên bố giai đoạn 2027 - 2036 là Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững. Đây là sáng kiến do Việt Nam khởi xướng và thúc đẩy cùng nhóm nòng cốt gồm Cyprus, Italy, Lào, Qatar và Saint Kitts và Nevis. Khi được thông qua, Nghị quyết có 103 quốc gia đồng bảo trợ.

Trong ngoại giao đa phương, một đề xuất chỉ thực sự trở thành sáng kiến quốc tế khi nó vượt ra khỏi phạm vi lợi ích của quốc gia khởi xướng, chạm tới những mối quan tâm chung và khiến các quốc gia khác nhìn thấy trong đó một phần câu chuyện của chính mình. Việt Nam đã lựa chọn một vấn đề vừa gắn sâu với mỗi dân tộc, vừa có tính phổ quát cao: Văn hóa vì Phát triển bền vững.

Một quốc đảo nhỏ đứng trước nguy cơ mất di sản do biến đổi khí hậu có mối quan tâm về văn hóa. Một quốc gia đang phát triển muốn tạo việc làm từ công nghiệp sáng tạo cũng vậy. Những nước phát triển lại đang phải giải quyết những vấn đề mới về trí tuệ nhân tạo, bản quyền, sự chi phối của các nền tảng xuyên biên giới và nguy cơ thu hẹp đa dạng văn hóa.

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” ảnh 2

Do đó, điều đáng nói phía sau con số 103 không hẳn là hơn một trăm quốc gia “ủng hộ Việt Nam”, mà là một ý tưởng khởi nguồn từ Việt Nam đã tìm được điểm gặp với lợi ích và mối quan tâm của nhiều quốc gia khác nhau.

Sự kiện càng có ý nghĩa khi đặt trong bối cảnh trước đó, ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết xác định:“Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”; đồng thời yêu cầu các giá trị văn hóa phải gắn kết hài hòa, thấm sâu vào chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm quốc gia.

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” ảnh 3

Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam có thể thấy vấn đề văn hóa được đặt ra từ rất sớm.

Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 đã xác định văn hóa là một mặt trận quan trọng của cách mạng. Trong bối cảnh đất nước chưa giành được độc lập, việcG giải phóng dân tộc không chỉ là giành lại chủ quyền, mà còn gắn với giải phóng con người, giữ gìn bản sắc và kiến tạo đời sống tinh thần mới. Tư tưởng đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển sâu sắc. Quan điểm “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” không chỉ thể hiện sự đề cao văn hóa mà quan trọng hơn là xác định vai trò định hướng của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội.

Trong thời kỳ đổi mới, nhận thức ấy tiếp tục được bổ sung và phát triển. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đến Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014, về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, văn hóa tiếp tục được xác định là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ Tổ quốc.

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” ảnh 4

Nghị quyết số 80-NQ/TW năm 2026 phát triển nhận thức đó thêm một bước khi đặt khái niệm “hệ điều tiết” bên cạnh nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực và trụ cột của phát triển. Nghị quyết đồng thời nhấn mạnh yêu cầu xử lý hài hòa các mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển, đời sống thực và không gian số, dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số.

Đây không đơn thuần là sự bổ sung về thuật ngữ mà chỉ ra rõ ràng hơn, sâu sắc hơn về bản chất của phát triển.

Kinh tế thị trường tạo động lực cạnh tranh nhưng văn hóa góp phần để cạnh tranh không trở thành bất chấp lợi ích cộng đồng. Công nghệ tạo ra năng suất và tiện ích chưa từng có nhưng văn hóa và đạo đức góp phần xác lập giới hạn sử dụng công nghệ. Đô thị hóa có thể tạo ra giá trị kinh tế rất lớn nhưng ý thức về lịch sử, ký ức và bản sắc giúp xã hội cân nhắc điều gì có thể thay đổi và điều gì không nên đánh đổi.

Một di sản có thể đem lại nguồn thu lớn từ du lịch nhưng nếu cộng đồng sống trong không gian di sản không được tham gia và hưởng lợi, sự phát triển ấy khó bền vững.

Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh nhưng nếu sự tin cậy giữa con người với con người suy giảm, chuẩn mực xã hội bị xói mòn và đời sống tinh thần nghèo đi thì tăng trưởng kinh tế chưa đủ tạo nên chất lượng phát triển.

Văn hóa, theo nghĩa đó, không phải chiếc “phanh” đối với phát triển. Văn hóa giúp phát triển biết mình đang đi đâu, vì ai và những giá trị nào không nên đánh đổi trên hành trình ấy.

Có thể nhìn thấy một mạch phát triển khá rõ trong tư duy của Đảng: Từ văn hóa là một mặt trận của cách mạng; Đến văn hóa “soi đường”; Văn hóa là nền tảng tinh thần, mục tiêu và động lực; Văn hóa là sức mạnh nội sinh; Và giờ đây là nền tảng, nguồn lực, trụ cột và hệ điều tiết của phát triển.

Đó là sự kế thừa nhưng không lặp lại, bởi mỗi bước phát triển đều gắn với những yêu cầu mới của đất nước và những biến đổi của thời đại.

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” ảnh 5

Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị quyết số 80-NQ/TW là đặt văn hóa trong mối quan hệ trực tiếp với thị trường, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia.

Nghị quyết nhìn nhận khá thẳng thắn những hạn chế hiện nay như thể chế, chính sách có mặt chưa theo kịp thực tiễn; nguồn lực còn hạn chế và phân tán; công nghiệp văn hóa chưa phát triển tương xứng với tiềm năng; nguồn nhân lực còn bất cập; trong khi cạnh tranh về giá trị, ảnh hưởng của công nghiệp văn hóa và tác động của khoa học - công nghệ đang đặt ra những thách thức mới.

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” ảnh 6

Từ cách nhìn ấy, phát triển văn hóa không thể chỉ giới hạn trong bảo tồn di sản hay tổ chức hoạt động nghệ thuật.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa; tầm nhìn đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo trở thành một trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP. Nghị quyết cũng đặt yêu cầu phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, các cụm, khu công nghiệp sáng tạo và tổ hợp sáng tạo văn hóa dựa trên công nghệ cao.

Những mục tiêu ấy cho thấy một thay đổi đáng chú ý trong cách tiếp cận. Bảo tồn vẫn là yêu cầu căn bản nhưng văn hóa không thể chỉ được hiểu là những gì cần giữ lại từ quá khứ.

Một bộ phim khai thác lịch sử có thể đồng thời tạo ra giá trị cho điện ảnh, du lịch, âm nhạc, thời trang và thương mại. Một trò chơi điện tử sử dụng chất liệu thần thoại Việt Nam có thể đưa hình tượng văn hóa dân tộc tới hàng triệu người trẻ. Một làng nghề nếu được kết nối với thiết kế hiện đại, thương mại điện tử và du lịch trải nghiệm có thể vừa bảo tồn kỹ năng truyền thống, vừa tạo thêm sinh kế cho cộng đồng.

Hội An là một ví dụ dễ thấy. Sức sống của di sản không chỉ nằm ở những ngôi nhà cổ được bảo tồn, mà còn ở cộng đồng cư dân, nghề thủ công, ẩm thực, thương mại, lễ hội và những hoạt động sáng tạo tiếp tục diễn ra trong không gian ấy.

Điều này gợi mở một sự chuyển dịch quan trọng, đó là: Từ bảo tồn văn hóa sang phát triển dựa trên văn hóa; Từ coi di sản chủ yếu là đối tượng cần bảo vệ sang nhìn nhận di sản đồng thời là nguồn lực có khả năng tiếp tục tạo ra giá trị.

Điều đó không có nghĩa thương mại hóa bằng mọi giá. Ngược lại, Nghị quyết số 80-NQ/TW lưu ý phải xử lý hài hòa quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, đồng thời khắc phục khuynh hướng chỉ đề cao lợi ích kinh tế mà coi nhẹ giá trị xã hội, nhân văn.

Vấn đề vì vậy không phải lựa chọn giữa bảo tồn hay phát triển, mà là phát triển như thế nào để chính sự phát triển tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn, và bảo tồn như thế nào để những giá trị của quá khứ tiếp tục sống trong đời sống hiện tại.

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” ảnh 7

Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển sức mạnh mềm từ văn hóa.

Đó trước hết là chiều sâu của một nền văn hóa được hình thành qua hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước và giao lưu với thế giới.

Một đặc điểm đáng chú ý của văn hóa Việt Nam là khả năng tiếp nhận và bản địa hóa.

Hội An từng là nơi gặp gỡ của thương nhân Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản và phương Tây, nhưng qua nhiều thế kỷ những lớp giao thoa ấy lại tạo thành một không gian rất riêng của Việt Nam.

Ẩm thực cũng vậy. Nhiều nguyên liệu và kỹ thuật chế biến từng đến từ bên ngoài nhưng qua quá trình tiếp biến đã góp phần tạo nên phở, bánh mì, cà phê Việt Nam - những sản phẩm hôm nay có khả năng gợi nhắc tới Việt Nam trên phạm vi quốc tế.

Khả năng tiếp nhận mà không đánh mất mình là một phẩm chất có giá trị đặc biệt trong toàn cầu hóa.

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” ảnh 8

Bởi giữ gìn bản sắc không đồng nghĩa với khép cửa. Một nền văn hóa sống phải có khả năng gặp gỡ, tiếp nhận, thay đổi và sáng tạo. Điều quan trọng là sau mỗi cuộc gặp gỡ, nó vẫn nhận ra mình và có thêm khả năng làm giàu cho chính mình.

Tuy nhiên, giữa sở hữu tài nguyên văn hóa và biến tài nguyên ấy thành sức mạnh mềm còn một khoảng cách đáng kể.

Sức mạnh mềm không đơn giản là tăng số lượng các chương trình quảng bá.

Một tuần văn hóa, một triển lãm áo dài hay một sự kiện ẩm thực ở nước ngoài đều cần thiết. Nhưng sức mạnh mềm đạt tới một trình độ khác khi công chúng nước ngoài chủ động tìm đến sản phẩm văn hóa của một quốc gia.

K-pop tạo ảnh hưởng bởi hàng triệu người tự nguyện nghe nhạc. Anime và manga khiến nhiều người trẻ trên thế giới muốn tìm hiểu Nhật Bản bởi họ đã có một mối liên hệ với đất nước ấy thông qua sản phẩm văn hóa.

Khi đó, sản phẩm tự kể câu chuyện về quốc gia.

Việt Nam không thiếu chất liệu: từ Truyện Kiều, những truyền thuyết dân gian tới tranh Đông Hồ, gốm Bát Tràng, áo dài; từ quan họ, ca trù, hát xoan tới không gian cồng chiêng; từ kiến trúc, làng nghề đến kho tàng ẩm thực và văn hóa của 54 dân tộc.

Câu hỏi không còn chủ yếu là chúng ta có đủ chất liệu hay không.

Câu hỏi là làm thế nào biến những chất liệu ấy thành những sản phẩm mà người khác muốn xem, muốn nghe, muốn chơi, muốn mặc, muốn trải nghiệm và sẵn sàng chi trả để sử dụng.

Giữa một kho tài nguyên văn hóa phong phú và một nền công nghiệp văn hóa mạnh là cả một hệ sinh thái gồm người sáng tạo, doanh nghiệp, vốn, công nghệ, sở hữu trí tuệ, truyền thông, hệ thống phân phối và thị trường.

Một nhà làm phim giỏi nhưng thiếu hệ thống sản xuất và phát hành khó đưa sản phẩm ra thế giới. Một nhà thiết kế khai thác họa tiết dân tộc nhưng thiếu thương hiệu và chuỗi cung ứng cũng khó tạo ảnh hưởng. Một doanh nghiệp trò chơi muốn sử dụng chất liệu lịch sử Việt Nam cần cả dữ liệu, nhân lực sáng tạo, công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường.

Bởi vậy, phát huy sức mạnh mềm trước hết phải bắt đầu từ nâng cao năng lực sáng tạo của xã hội.

Nhà nước không thể tạo ra sức hấp dẫn văn hóa bằng mệnh lệnh hành chính. Nhà nước có thể kiến tạo môi trường, hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ đào tạo và tạo điều kiện cho tài năng. Nhưng sức hấp dẫn cuối cùng phải được tạo ra bởi những sản phẩm mà công chúng tự nguyện lựa chọn.

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” ảnh 9

Nếu Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt văn hóa vào vị trí một nguồn lực, động lực và “hệ điều tiết” của phát triển, thì vấn đề tiếp theo là làm thế nào để nguồn lực ấy thực sự được đánh thức và chuyển hóa thành sức mạnh quốc gia.

Trong điều kiện hiện nay, quá trình đó cần được nhìn trong sự gắn kết của ba không gian ngày càng khó tách rời: không gian văn hóa dân tộc, không gian số và không gian quốc tế.

Từ di sản đến dữ liệu, từ dữ liệu đến sáng tạo

Trước hết, cần thay đổi cách nhìn về nguồn lực văn hóa.

Tài nguyên chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi nó có khả năng tham gia vào quá trình tạo ra những giá trị mới.

Một di sản được bảo tồn tốt là cần thiết. Nhưng nếu từ di sản ấy có thể hình thành thêm sản phẩm giáo dục, du lịch, điện ảnh, thiết kế hay nội dung số thì giá trị văn hóa không những không mất đi mà còn có khả năng lan tỏa rộng hơn.

Một làn điệu dân gian được ghi chép và lưu giữ là cần thiết. Nhưng nếu những chất liệu âm nhạc ấy tiếp tục đi vào sáng tác mới và được thế hệ trẻ đón nhận, di sản sẽ có một đời sống khác.

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” ảnh 10

Một câu chuyện lịch sử nếu chỉ nằm trong sách có thể đến với một lượng độc giả nhất định. Nhưng nếu được chuyển hóa thành phim, hoạt hình, trò chơi điện tử hay trải nghiệm thực tế ảo, nó có thể tiếp cận hàng triệu người.

Bởi vậy, phát huy sức mạnh văn hóa trước hết phải là làm cho văn hóa tiếp tục sống và tiếp tục tạo ra giá trị.

Yêu cầu này trở nên cấp thiết hơn khi trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số đang thay đổi căn bản cách con người sáng tạo, phân phối và tiếp nhận văn hóa.

Một người trẻ Việt Nam hôm nay có thể xem phim Mỹ, nghe nhạc Hàn Quốc, đọc truyện Nhật Bản, chơi trò chơi nước ngoài và tiếp xúc với hàng chục nền văn hóa trên cùng một chiếc điện thoại.

Không thể và cũng không nên ngăn dòng chảy ấy.

Một nền văn hóa muốn tồn tại trong môi trường mở không thể chủ yếu dựa vào hàng rào. Nó phải dựa vào sức sống và khả năng sáng tạo của chính mình.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào nhóm nguồn lực tạo “không gian mới, xung lực mới” cho phát triển văn hóa; đồng thời đặt yêu cầu xử lý quan hệ giữa đời sống thực và không gian số, dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số.

Điều đó gợi ra yêu cầu phải đi xa hơn cách hiểu thông thường về số hóa.

Số hóa di sản không nên chỉ là chụp ảnh, quét tài liệu rồi lưu trữ. Việt Nam cần từng bước hình thành hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, trong đó di sản vật thể và phi vật thể được số hóa, chuẩn hóa, liên thông và có cơ chế khai thác phù hợp.

Có thể hình dung một cơ sở dữ liệu về hoa văn của các dân tộc để nhà thiết kế khai thác hợp pháp; những mô hình 3D chính xác của di tích phục vụ bảo tồn, giáo dục, điện ảnh và trò chơi; kho âm nhạc truyền thống được ghi âm, chú giải và phân loại; hay kho truyện cổ, thần thoại, lịch sử được tổ chức thành dữ liệu có cấu trúc để các nhà sáng tạo sử dụng.

Khi ấy, di sản không chỉ được lưu giữ để tránh mất đi.

Nó trở thành nguyên liệu của sáng tạo.

Một chuỗi giá trị mới có thể hình thành: từ di sản đến dữ liệu văn hóa, từ dữ liệu đến sáng tạo, từ sáng tạo đến sản phẩm, từ sản phẩm đến thị trường và từ thị trường trở lại tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn.

Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, khả năng làm chủ dữ liệu văn hóa còn liên quan đến khả năng một quốc gia chủ động kể câu chuyện về chính mình. Bởi vậy, dữ liệu văn hóa không còn chỉ là vấn đề lưu trữ của ngành văn hóa mà ngày càng trở thành một bộ phận của hạ tầng phát triển và năng lực tự chủ văn hóa quốc gia.

Từ sức mạnh bên trong đến khả năng lan tỏa ra thế giới

Sức mạnh văn hóa không chỉ được tạo ra và lưu chuyển trong phạm vi quốc gia.

Trong một thế giới kết nối sâu rộng, sức mạnh của một nền văn hóa còn được thể hiện ở khả năng đối thoại, chia sẻ và tạo ra sự hấp dẫn đối với cộng đồng quốc tế.

Ở đây, phát triển văn hóa và đối ngoại gặp nhau một cách tự nhiên.

Trong nhiều năm, một phần quan trọng của ngoại giao văn hóa Việt Nam là giới thiệu đất nước, con người và vận động cộng đồng quốc tế ghi nhận các giá trị di sản Việt Nam. Những hoạt động đó vẫn cần thiết.

Nhưng cùng với sự phát triển của đất nước, một bước đi khác đang dần hình thành: Việt Nam không chỉ giới thiệu mình với thế giới mà còn có thể đóng góp những ý tưởng và giá trị cho thế giới.

Sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững 2027 - 2036” là một biểu hiện khá rõ của sự chuyển dịch ấy.

Việt Nam đã chủ động hình thành ý tưởng, đưa vấn đề qua tiến trình UNESCO, xây dựng nhóm nòng cốt, vận động các đối tác và thúc đẩy sáng kiến tới Đại hội đồng Liên hợp quốc. Việc Nghị quyết có 103 quốc gia đồng bảo trợ cho thấy một ý tưởng xuất phát từ Việt Nam đã tìm được điểm gặp với những mối quan tâm rộng hơn của cộng đồng quốc tế.

Ý nghĩa của sự kiện vì vậy không chỉ nằm ở một kết quả ngoại giao.

Nó cho thấy sức mạnh văn hóa còn có thể trở thành năng lực kết nối và kiến tạo đồng thuận quốc tế.

Đây là một tầng ý nghĩa quan trọng của sức mạnh mềm.

Sức mạnh mềm không chỉ là khiến người khác biết đến Việt Nam, mà còn là khả năng làm cho những giá trị và ý tưởng Việt Nam đóng góp được người khác quan tâm, chia sẻ và cùng hành động.

Nếu một sản phẩm văn hóa Việt Nam khiến công chúng quốc tế tự tìm đến, đó là sức hấp dẫn.

Nếu một giá trị văn hóa Việt Nam tạo ra sự đồng cảm, đó là sức lan tỏa.

Và nếu một sáng kiến từ Việt Nam có thể kết nối nhiều quốc gia quanh một vấn đề chung, đó là khả năng chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành ảnh hưởng quốc tế.

Ở một mạch đối ngoại nhân dân, Tuyên ngôn Hạ Long về “Kinh tế sáng tạo - Kết nối văn hóa vì Hòa bình và Phát triển bền vững”, được thông qua tháng 8-2024 trong khuôn khổ hoạt động của Liên hiệp các Hội UNESCO Thế giới, cũng có thể được nhìn như một ví dụ về sự chủ động đề xuất thông điệp từ Việt Nam. Đây là hoạt động thuộc mạng lưới UNESCO phi chính phủ, không phải văn kiện chính thức của UNESCO và không phải tiền đề thể chế của sáng kiến Thập kỷ, nhưng cho thấy ở kênh đối ngoại nhân dân, Việt Nam cũng đang mở rộng vai trò từ tham gia sang tạo diễn đàn và đóng góp ý tưởng.

Nhìn theo cách ấy, sức mạnh văn hóa và vị thế quốc gia có quan hệ hai chiều.

Một đất nước có vị thế cao hơn tạo điều kiện để văn hóa lan tỏa rộng hơn. Ngược lại, một nền văn hóa có sức hấp dẫn, khả năng sáng tạo và năng lực đóng góp những giá trị chung sẽ làm sâu thêm uy tín và vị thế của đất nước.

Biến Thập kỷ 2027 - 2036 thành không gian phát huy sức mạnh văn hóa Việt Nam

Việc Việt Nam là quốc gia khởi xướng Thập kỷ quốc tế 2027 - 2036 tạo ra một cơ hội đặc biệt để kết nối sức mạnh văn hóa bên trong với khả năng lan tỏa ra bên ngoài.

Mười năm là khoảng thời gian đủ dài để kiểm chứng những quan điểm lớn được đặt ra trong Nghị quyết số 80-NQ/TW.

Vấn đề quan trọng là không để Thập kỷ chủ yếu trở thành một chuỗi hội nghị, lễ kỷ niệm hay sự kiện mang tính biểu tượng.

Thay vào đó, có thể xem đây như một không gian để Việt Nam thử nghiệm và giới thiệu những mô hình phát triển dựa trên văn hóa.

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” ảnh 11

Đó có thể là mô hình bảo tồn di sản gắn với sinh kế cộng đồng; thành phố sáng tạo; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong bảo tồn và sáng tạo; dữ liệu văn hóa; phát triển công nghiệp văn hóa; hay phát huy vai trò của văn hóa trong thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển đô thị.

Những mô hình thành công trong nước có thể trở thành đóng góp của Việt Nam cho cộng đồng quốc tế.

Ở chiều ngược lại, tri thức, công nghệ, kinh nghiệm và mạng lưới chuyên gia hình thành trong khuôn khổ Thập kỷ cần được đưa trở lại phục vụ phát triển văn hóa Việt Nam.

Như vậy, quan hệ giữa trong nước và quốc tế không còn là một chiều.

Việt Nam vừa chia sẻ, vừa học hỏi; vừa đưa văn hóa ra thế giới, vừa tiếp nhận những nguồn lực mới để làm giàu cho văn hóa dân tộc.

Đó cũng chính là logic từng giúp văn hóa Việt Nam tồn tại và phát triển qua hàng nghìn năm: mở để tiếp nhận nhưng có đủ bản lĩnh để chuyển hóa những gì tiếp nhận thành giá trị của mình.

Nếu làm được điều đó, giai đoạn 2027 - 2036 có thể mang một ý nghĩa lớn hơn một “Thập kỷ quốc tế” do Việt Nam khởi xướng.

Đây có thể trở thành giai đoạn Việt Nam chủ động chuyển hóa bản sắc thành nguồn lực, di sản thành sáng tạo, sáng tạo thành sản phẩm, sản phẩm thành sức mạnh mềm và sức mạnh mềm thành một thành tố của sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Khi ấy, văn hóa không chỉ là điều chúng ta gìn giữ từ quá khứ.

Văn hóa thực sự tham gia vào việc tạo dựng tương lai.

Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW đến sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” ảnh 12

Để những quan điểm của Nghị quyết số 80-NQ/TW và cơ hội từ Thập kỷ quốc tế 2027 - 2036 thực sự đi vào cuộc sống, vấn đề quan trọng nhất là chuyển từ nhận thức về vai trò của văn hóa sang năng lực tổ chức và phát triển văn hóa.

Điều cần hướng tới không đơn thuần là có thêm bao nhiêu chương trình hay đề án, mà là hình thành một hệ sinh thái trong đó thể chế, con người, công nghệ, thị trường, cộng đồng và hội nhập quốc tế hỗ trợ lẫn nhau.

Thứ nhất, tạo đột phá về thể chế để khơi thông nguồn lực văn hóa

Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định thể chế giữ vai trò then chốt, nguồn lực nhà nước có vai trò dẫn dắt, còn nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân là động lực quan trọng. Nghị quyết cũng yêu cầu tháo gỡ những điểm nghẽn về pháp luật và xây dựng các cơ chế mới cho hoạt động nghệ thuật, quyền tác giả, công nghiệp văn hóa và các mô hình kinh doanh mới.

Đây phải được coi là giải pháp mở đầu.

Nhiều hoạt động sáng tạo có đặc thù rất khác với các ngành kinh tế thông thường, trong khi cơ chế đầu tư, đặt hàng, đấu thầu, sử dụng tài sản công, khai thác không gian sáng tạo, thuế, bản quyền hay hợp tác công - tư chưa phải lúc nào cũng theo kịp thực tiễn.

Do đó, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang quản trị phát triển: Nhà nước tập trung xây dựng luật chơi, đầu tư hạ tầng nền tảng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và hỗ trợ những lĩnh vực mà thị trường chưa thể tự giải quyết; đồng thời tạo không gian rộng hơn cho nghệ sĩ, doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo.

Thứ hai, coi con người sáng tạo là nguồn lực trung tâm

Công nghiệp văn hóa suy cho cùng là ngành công nghiệp của tài năng.

Muốn có điện ảnh mạnh phải có biên kịch, đạo diễn, nhà sản xuất và đội ngũ kỹ thuật giỏi. Muốn có ngành thiết kế mạnh phải có nhà thiết kế, chuyên gia thương hiệu, công nghệ vật liệu và năng lực tiếp cận thị trường. Muốn phát triển trò chơi điện tử dựa trên văn hóa Việt Nam phải có cả kỹ sư công nghệ, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu lịch sử và chuyên gia kinh doanh.

Bởi vậy, phát triển văn hóa phải đi cùng một chiến lược phát triển nhân lực văn hóa - sáng tạo.

Cần đổi mới đào tạo nghệ thuật; tăng liên kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; kết hợp đào tạo nghệ thuật với công nghệ và quản trị; đồng thời có cơ chế thực chất để phát hiện, trọng dụng tài năng và giúp người sáng tạo có thể sống được bằng nghề.

Thứ ba, lựa chọn những ngành công nghiệp văn hóa có lợi thế để tạo đột phá

Việt Nam có tiềm năng ở điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang, thủ công, ẩm thực, du lịch văn hóa, trò chơi điện tử và nội dung số.

Nhưng nguồn lực không thể chia đều.

Cần lựa chọn một số lĩnh vực vừa có lợi thế về chất liệu văn hóa, vừa có khả năng hình thành chuỗi giá trị, tiếp cận thị trường quốc tế và tạo hiệu ứng lan tỏa sang du lịch, thương mại, giáo dục và thương hiệu quốc gia.

Khi đó, mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa mới được chuyển hóa thành những ngành kinh tế có sản phẩm, doanh thu, việc làm, thị trường và thương hiệu cụ thể, thay vì dừng lại ở một khái niệm chính sách.

Thứ tư, xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa và chủ động bước vào kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo

Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt chuyển đổi số và chủ quyền văn hóa số vào những vấn đề cần xử lý trong phát triển văn hóa.

Bước tiếp theo cần là một chương trình có quy mô quốc gia về dữ liệu văn hóa.

Dữ liệu cần được chuẩn hóa, liên thông, xác định rõ quyền sở hữu, quyền khai thác và cơ chế tiếp cận. Những kho dữ liệu có thể phục vụ đồng thời bảo tồn, giáo dục, nghiên cứu và các ngành công nghiệp sáng tạo.

Đặc biệt, cần sớm nghiên cứu mối quan hệ giữa dữ liệu văn hóa Việt Nam và các mô hình trí tuệ nhân tạo. Trong tương lai gần, AI sẽ ngày càng tham gia vào quá trình sản xuất văn bản, hình ảnh, âm nhạc và sản phẩm giải trí. Nếu không chủ động xây dựng nguồn dữ liệu chất lượng về lịch sử, ngôn ngữ, di sản và văn hóa Việt Nam, khả năng tự kể câu chuyện về mình trong môi trường số sẽ bị hạn chế.

Thứ năm, xây dựng sức mạnh mềm bằng sản phẩm và sự hấp dẫn thực chất

Cần chuyển từ tư duy chủ yếu quảng bá văn hóa sang tư duy tạo ra sức hấp dẫn văn hóa.

Quảng bá giúp thế giới biết tới Việt Nam. Sản phẩm tốt khiến thế giới tự tìm đến Việt Nam.

Điều đó đòi hỏi xác định rõ những giá trị Việt Nam muốn thế giới nhận diện; lựa chọn một số lĩnh vực có khả năng tạo ra biểu tượng văn hóa mới; xây dựng chiến lược thị trường và phối hợp tốt hơn giữa văn hóa, đối ngoại, du lịch, truyền thông và doanh nghiệp.

Sức mạnh mềm bền vững không được tạo nên bởi một chiến dịch truyền thông ngắn hạn, mà bởi nhiều năm tích lũy những sản phẩm, hình ảnh, trải nghiệm và giá trị đủ sức tạo thiện cảm và sự tin cậy.

Thứ sáu, đưa cộng đồng trở thành chủ thể của phát triển văn hóa

Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa.

Quan điểm này cần được thể hiện rõ trong từng chính sách cụ thể.

Di sản khó được bảo tồn bền vững nếu người dân sống cùng di sản chỉ đứng ngoài quá trình khai thác. Phát triển du lịch văn hóa, làng nghề, đô thị sáng tạo hay không gian nghệ thuật cần tạo điều kiện để cộng đồng tham gia từ hoạch định, tổ chức đến hưởng lợi.

Khi văn hóa tạo ra sinh kế, cộng đồng sẽ có thêm động lực bảo vệ văn hóa.

Đây cũng là cách kết nối tự nhiên giữa bảo tồn và phát triển.

Thứ bảy, chủ động biến Thập kỷ 2027 - 2036 thành một không gian hợp tác quốc tế thực chất

Việt Nam có thể chủ động đề xuất những chương trình quốc tế cụ thể về văn hóa và AI, dữ liệu di sản, thành phố sáng tạo, bảo tồn gắn với sinh kế, văn hóa và biến đổi khí hậu, giáo dục văn hóa cho thế hệ trẻ hay phát triển công nghiệp sáng tạo.

Nếu lựa chọn đúng chủ đề, Việt Nam vừa có thể chia sẻ những kinh nghiệm phù hợp, vừa tiếp cận tri thức, công nghệ, chuyên gia và mạng lưới quốc tế để phục vụ phát triển trong nước.

Đây là cách để sáng kiến không dừng ở dấu ấn đối ngoại mà tạo ra những giá trị phát triển cụ thể cho Việt Nam.

Thứ tám, đổi mới cách đánh giá kết quả phát triển văn hóa

Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị quyết số 80-NQ/TW là yêu cầu thiết lập cơ chế theo dõi, giám sát và đánh giá theo hướng quản lý kết quả, với các bộ chỉ số gắn với mục tiêu và lộ trình đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Đây là hướng cần được thực hiện nghiêm túc.

Không nên chỉ đo phát triển văn hóa bằng số lượng sự kiện, thiết chế, lễ hội hay kinh phí đầu tư.

Cần đo được mức độ thụ hưởng văn hóa của người dân; số việc làm sáng tạo; doanh thu và giá trị xuất khẩu của công nghiệp văn hóa; khả năng tiếp cận văn hóa của các nhóm yếu thế; mức độ tham gia và hưởng lợi của cộng đồng; khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sáng tạo; mức độ sử dụng dữ liệu văn hóa và sức lan tỏa quốc tế của sản phẩm Việt Nam.

Nghị quyết số 155/NQ-CP ngày 19-6-2026 tiếp tục sửa đổi, bổ sung Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, cho thấy quá trình cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đang tiếp tục được hoàn thiện.

Nhưng cuối cùng, mọi giải pháp vẫn phải trở về với con người.

Sức mạnh văn hóa của một quốc gia không chỉ được thể hiện qua số lượng di sản, doanh thu công nghiệp văn hóa hay mức độ nổi tiếng của các sản phẩm giải trí.

Nó còn nằm trong văn hóa công vụ, văn hóa kinh doanh, văn hóa pháp luật, cách con người ứng xử với nhau và chất lượng của không gian số.

Nếu kinh tế phát triển nhưng sự tin cậy xã hội suy giảm; công nghệ tiến nhanh nhưng chuẩn mực ứng xử đi xuống; thành phố hiện đại hơn nhưng ngày càng mất đi những không gian cộng đồng và ký ức đô thị, thì chưa thể nói văn hóa đã thực sự trở thành “hệ điều tiết” của phát triển.

Bởi vậy, phát huy sức mạnh văn hóa không phải nhiệm vụ riêng của ngành văn hóa.

Đó phải là một phương thức phát triển đất nước.

Kết luận

Từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, tư tưởng Hồ Chí Minh về “văn hóa soi đường”, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết số 33-NQ/TW đến Nghị quyết số 80-NQ/TW và những định hướng của Đại hội XIV, có thể nhận thấy một mạch phát triển nhất quán nhưng ngày càng sâu sắc hơn trong tư duy của Đảng về văn hóa.

Văn hóa từ một mặt trận của cách mạng được xác định là nền tảng tinh thần, mục tiêu và động lực của phát triển; tiếp đó là sức mạnh nội sinh; và hôm nay được đặt ở vị trí nền tảng, nguồn lực, trụ cột và hệ điều tiết của phát triển nhanh, bền vững.

Sự phát triển về nhận thức ấy phản ánh chính những yêu cầu mới của đất nước.

Kinh tế càng phát triển nhanh càng cần trả lời rõ phát triển vì con người như thế nào.

Hội nhập càng sâu càng cần biết mình là ai.

Công nghệ càng mạnh càng cần những chuẩn mực để bảo đảm con người vẫn ở vị trí trung tâm.

Và một đất nước càng muốn đi xa càng cần những nguồn lực được hình thành từ chiều sâu văn hóa, bản lĩnh, sức sáng tạo và sự gắn kết của con người.

Trong bối cảnh ấy, việc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững 2027 - 2036” do Việt Nam khởi xướng có ý nghĩa vượt khỏi một kết quả ngoại giao cụ thể.

Sự kiện cho thấy Việt Nam đang từng bước chuyển từ tham gia các chương trình nghị sự quốc tế sang đóng góp ý tưởng và cùng kiến tạo đồng thuận. Đáng chú ý hơn, Việt Nam làm điều đó bằng văn hóa - một lĩnh vực gắn sâu với lịch sử dân tộc nhưng đồng thời có khả năng tạo ra những kết nối rộng lớn trong một thế giới nhiều khác biệt.

Tuy nhiên, giá trị lâu dài của sáng kiến sẽ không nằm ở việc chúng ta nhắc lại bao nhiêu lần rằng Việt Nam là quốc gia khởi xướng.

Điều quan trọng hơn là sau mười năm, từ 2027 đến 2036, văn hóa Việt Nam sẽ thay đổi như thế nào và đóng góp được gì cho sự phát triển của đất nước.

Nếu người dân tại những vùng di sản có sinh kế tốt hơn nhờ di sản; nếu người trẻ có thể sống bằng sáng tạo; nếu điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, trò chơi và nội dung số Việt Nam xuất hiện nhiều hơn trên thị trường quốc tế; nếu dữ liệu văn hóa trở thành nguyên liệu của nền kinh tế sáng tạo; nếu các thành phố phát triển mà vẫn giữ được ký ức và bản sắc; nếu văn hóa thực sự thấm vào kinh tế, quản trị, giáo dục và đời sống hằng ngày, khi đó thành công sẽ lớn hơn rất nhiều một nghị quyết được thông qua tại Liên hợp quốc.

Việt Nam khi ấy không chỉ là quốc gia đề xuất một tư tưởng về văn hóa và phát triển bền vững.

Quan trọng hơn, Việt Nam có thể đóng góp những kinh nghiệm thực tiễn về cách biến văn hóa thành nguồn lực của phát triển.

Đó cũng là cách tự nhiên và bền vững để phát huy sức mạnh văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: biến bản sắc thành nguồn lực, di sản thành sáng tạo, sáng tạo thành giá trị phát triển; đồng thời để những giá trị tốt đẹp của văn hóa thấm sâu vào con người, xã hội và cách đất nước bước ra thế giới.

TIN LIÊN QUAN
Ban huấn luyện gồm NSƯT Ngọc Đợi, NSƯT Võ Minh Lâm và NSND Hồ Ngọc Trinh cùng ban giám khảo vòng Chung kết 3 gồm NSND Quế Trân (khách mời), NSND Trọng Phúc và NSND Phượng Loan - Ảnh: Linh Bảo
Huỳnh Kim Tho, Trần Văn Khiêm, Võ Thị Bé vào “top 3” Chuông vàng vọng cổ 2026
(Ngày Nay) -Tối 20/9, tại Nhà hát đài phát thanh và truyền hình TPHCM (HTV) đã diễn ra vòng Chung kết 3 cuộc thi Chuông vàng vọng cổ 2026 (lần thứ 21) với sự tranh tài của 5 thí sinh là: Võ Thị Bé (sinh năm 1998, Cà Mau), Trần Văn Khiêm (1991, An Giang), Huỳnh Kim Tho (1990, An Giang), Nguyễn Thị Mỹ Duyên (2003, Đồng Tháp) và Huỳnh Văn Tánh (1991, Tây Ninh).
Nam Bộ, Nam Trung Bộ mưa lớn
Nam Bộ, Nam Trung Bộ mưa lớn
(Ngày Nay) - Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, từ chiều 21/9 đến hết đêm 22/9, Nam Bộ cùng nhiều khu vực thuộc Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có mưa lớn, cục bộ trên 200 mm. Nguy cơ lốc xoáy, sét, mưa đá, gió giật mạnh, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và tàu thuyền.
“Thiên nhiên cầu nguyện không lời” của cố danh họa Lê Bá Đảng lần đầu được giới thiệu tại Việt Nam
“Thiên nhiên cầu nguyện không lời” của cố danh họa Lê Bá Đảng lần đầu được giới thiệu tại Việt Nam
(Ngày Nay) - 17 tác phẩm thuộc bộ “Thiên nhiên cầu nguyện không lời” của cố họa sĩ Lê Bá Đảng được giới thiệu đến công chúng, mở thêm cơ hội tiếp cận một dòng sáng tác đặc biệt của họa sĩ, từ ngôn ngữ tạo hình giàu tính triết lý đến kỹ thuật in thạch bản trên giấy ngọc trai Nhật Bản.
18 năm thắp sáng ước mơ cho gần 8.000 bệnh nhi tim bẩm sinh
18 năm thắp sáng ước mơ cho gần 8.000 bệnh nhi tim bẩm sinh
(Ngày Nay) - Tối 20/9, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức Gala “Trái tim cho em” 2026. "Trái tim cho em” là chương trình can thiệp, phẫu thuật tim nhân đạo dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn dưới 18 tuổi, do Quỹ Tấm lòng Việt - Đài Truyền hình Việt Nam và Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) phối hợp thực hiện từ năm 2008.
ASIAD 2026: Tấm HCV lịch sử ở môn Teqball
ASIAD 2026: Tấm HCV lịch sử ở môn Teqball
(Ngày Nay) - VĐV Khin Hnin Wai của Myanmar đã đi vào lịch sử ASIAD khi trở thành nhà vô địch đầu tiên của nội dung đơn nữ môn Teqball, sau khi đánh bại Sumaya của Indonesia trong trận chung kết tại ASIAD 2026.
Phát hiện gene gây kháng thuốc trong điều trị ung thư máu
Phát hiện gene gây kháng thuốc trong điều trị ung thư máu
(Ngày Nay) - Các nhà nghiên cứu tại Australia đã phát hiện một loại gene chưa từng được biết đến trước đây, có khả năng giúp các tế bào u lympho kháng lại một loại thuốc điều trị ung thư máu phổ biến, đồng thời xác định một số gene khác thúc đẩy sự phát triển của u lympho.
Việt Nam có thể đóng góp quan trọng vào một chủ nghĩa đa phương hiệu quả hơn
Việt Nam có thể đóng góp quan trọng vào một chủ nghĩa đa phương hiệu quả hơn
(Ngày Nay) - Việt Nam, với hành trình chuyển mình từ chiến tranh sang hòa bình, từ kém phát triển sang thịnh vượng, cùng kinh nghiệm kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ thiên nhiên, có thể đóng góp những bài học giá trị cho nỗ lực thúc đẩy lòng tin và nâng cao hiệu quả của chủ nghĩa đa phương. Đây là nhận định của bà Kanni Wignaraja, Trợ lý Tổng Thư ký Liên hợp quốc (LHQ), Giám đốc Khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Chương trình Phát triển LHQ (UNDP).