Đằng sau những mức giá này là sự dịch chuyển đáng chú ý của thị trường, từ khẩu vị sưu tập, sự trỗi dậy của thế hệ người mua trong nước đến triển vọng của các thế hệ nghệ sĩ Việt trên thị trường quốc tế. Trao đổi với Ngày Nay, giám tuyển, cố vấn Cao cấp Sotheby’s Ace Lê nhận định về những chuyển động đang định hình thị trường tranh Việt hiện nay và trong thời gian tới.
PV: Xin chào giám tuyển Ace Lê, chúc mừng Sotheby's với những kỷ lục vô tiền khoáng hậu vừa đạt được. Dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu, anh có thể phân tích rõ hơn đâu là lý do cốt lõi khiến tác phẩm Hoa viên nhã đàm của Vũ Cao Đàm đạt tới mức giá kỷ lục 3.69 triệu USD? Yếu tố về khổ tranh lớn, lịch sử lưu dấu tại các bảo tàng, hay tâm lý thị trường tại thời điểm này đóng vai trò quyết định?
Giám tuyển Ace Lê: Có lẽ là tất cả các yếu tố trên. Nhưng dù thị trường có thể lên hay xuống, điều quan trọng nhất khi chúng tôi thẩm định và định giá cho tác phẩm vẫn là tầm quan trọng về lịch sử và lịch sử mỹ thuật. Vì vậy mà ngay từ khâu ước tính, “Hoa viên nhã đàm” đã là tác phẩm Việt được định giá cao nhất từ trước tới nay với mức 8-19.6 triệu HKD, và cuối cùng gõ búa vượt giá ước tính trần tận 51%. Xét về lai lịch (provenance), tác phẩm có chuỗi lịch sử trao tay minh bạch, đã từng được triển lãm tại Đông Dương Kinh tế Cục (Agindo) ngay từ năm vừa được sáng tác, với nguồn ảnh tư liệu xác tín.
Xét về giá trị mỹ thuật, đây là một kiệt tác lụa khổ đại rất hiếm của Vũ Cao Đàm, với thủ bút tinh tế của một người vốn được đào tạo điêu khắc, và thể hiện đề tài liên quan mật thiết tới đời sống tâm tư và lịch sử gia đình họa sỹ ở thời điểm Thế chiến II sắp nổ ra. Xét toàn diện, “Hoa viên nhã đàm” là một hoàn phẩm toàn bích, gói gọn thế giới tâm tưởng của Vũ Cao Đàm trong một giai đoạn biến động nơi đất khách.
![]() |
“Hoa viên nhã đàm” được Vũ Cao Đàm sáng tác năm 1939 với khổ lớn 85.6 x114.5 cm, đã từng được triển lãm tại Đông Dương Kinh tế Cục (Agindo) tại Paris. Tác phẩm đã từng được đấu giá tại Sotheby’s Hồng Kông năm 2008, thuộc bộ sưu tập của Philip Ng và được nhắc tới trong cuốn sách “Visions and enchantment: Southeast Asian Paintings” (2000) do Bảo tàng Nghệ thuật Singapore xuất bản. Nguồn: Ace Lê |
Bên cạnh Vũ Cao Đàm, cột mốc 360 ngàn USD của danh họa Trần Lưu Hậu với tác phẩm Công viên 15 cũng gây chấn động không kém. Phải chăng đây là tín hiệu cho thấy "khẩu vị" của các nhà sưu tập đang dịch chuyển, và liệu tranh thuộc thế hệ Khóa Kháng chiến đã đến lúc bước vào giai đoạn thiết lập một mặt bằng giá trị xứng tầm mới, thay vì đứng sau cái bóng của tranh Đông Dương?
Giám tuyển Ace Lê: Đó là một làn sóng thị trường tất yếu sẽ phải xảy ra. Khi phong trào hồi hương tác phẩm quý diễn đã và đang diễn ra sôi nổi trong 2 thập kỷ qua, thì nguồn tranh Đông Dương ở hải ngoại sẽ ngày càng hiếm cạn. Thời gian trôi qua cũng sẽ cho chúng ta – cả khối nghiên cứu và khối sưu tập – khoảng lui đủ sâu để nhận định đâu là các tác giả, tác phẩm quan trọng.
Thế hệ họa sỹ khóa kháng chiến là lứa tiếp nối ngay sau Đông Dương, và các tác phẩm hậu Đổi Mới của họ mang tính cá nhân cao, cách thể hiện đương đại, và với lịch sử tư liệu vững vàng để đối chiếu – như tôi đề cập đến trong bài luận tôi viết riêng cho Trần Lưu Hậu trong phiên đấu này. “Công viên 15” lập kỷ lục mới, là một tín hiệu cần thiết và đáng mừng. Một thị trường nghệ thuật sẽ bền vững khi thanh khoản được dàn đều qua các thời kỳ khác nhau.
![]() |
“Công viên 15” (2005), tác phẩm acrylic lớn nhất của Trần Lưu Hậu với khổ đại 4m. Tôi đã viết bài luận sâu về tác phẩm này trên trang giới thiệu của Sotheby’s. Bức tranh được gõ búa ở mức 360 ngàn USD cả phí thuế (vượt hơn gấp đôi giá ước tính trần), trở thành kỷ lục cá nhân cao nhất của Trần Lưu Hậu tính đến thời điểm hiện tại. Đây cũng là kỷ lục cao nhất trên sàn của một tác phẩm họa sỹ khóa kháng chiến. Nguồn: Ace Lê |
Bài bình luận xunh quanh sự kiện của anh nhắc đến một thông tin rất đáng chú ý, đó là tỉ lệ khách đấu có xu hướng "lành mạnh thiên về khách trong nước". Anh có thể phác họa rõ hơn về chân dung các nhà sưu tập Việt Nam thế hệ mới tham gia phiên đấu này? Đâu là động lực khiến họ sẵn sàng chi hàng triệu USD để đưa các kiệt tác Việt từ nước ngoài trở về quê hương?
Giám tuyển Ace Lê: Tôi xin phép bảo mật thông tin cụ thể của các nhà sưu tập, nhưng có thể chia sẻ về xu hướng chung. Các tiến triển rất lành mạnh về cơ sở hạ tầng tại Việt Nam như kinh tế tăng trưởng, khung chính sách cho nghệ thuật dần được hình thành, và hệ thống kinh viện, giáo dục nghệ thuật bắt đầu nhận được nhiều sự chú ý hơn đã tạo tiền đề cho một thế hệ nhà sưu tập nội địa có tiềm lực tài chính, kiến thức mỹ thuật và tầm nhìn xa để hồi hương các tác phẩm quý từ khoảng 15 năm đổ lại.
Và khi đứng trước một kiệt tác tranh Việt, hẳn nhiên người Việt sẽ rung cảm hơn cả, nên sẽ quyết liệt hơn khi mở hầu bao. So với 2 thập kỷ trước đây, tỉ lệ người Việt đấu giá tranh Việt đã trở nên áp đảo so với khách khu vực và quốc tế.
![]() |
Bài bình luận của giám tuyển Ace Lê trên trang cá nhân sau phiên đấu giá kỷ lục. Nguồn: Ace Lê |
Tỉ lệ thanh khoản 100% (18/18 tác phẩm đều có chủ) là một con số rất đáng kể. Tuy nhiên, ở góc độ thị trường, sự tăng trưởng này có đi kèm với nguy cơ nào cần lưu ý hay không? Làm thế nào để chúng ta giữ được tính lành mạnh và bền vững trong bối cảnh nền kinh tế vĩ mô hiện tại?
Giám tuyển Ace Lê: Với một sàn đấu giá uy tín như Sotheby’s, thì tỉ lệ thanh khoản luôn ở trong mức 90-100%, bởi đầu vào đã được lọc với tiêu chuẩn thẩm định kỹ càng. Phân khúc Việt Nam trong những phiên gần đây tại Sotheby’s đều đạt tỉ lệ gõ búa cao nhất trong khu vực, điều này thể hiện sự tự tin rất cần thiết cho cả khối ký gửi, khối mua và vai trò môi giới của nhà đấu giá. Tuy nhiên, nếu tỉ lệ mua 100% diễn ra thường xuyên ở các nhà nhỏ, không có chuyên môn thẩm định tranh Việt, với các tác phẩm có vấn đề, thì rất có thể lại là một tín hiệu đáng ngờ của mặt trái trong vận hành, ví dụ như giao dịch giả để hợp thức hóa một tác phẩm yếu kém.
Nắm giữ tới 4/5 kỷ lục trong top 5 tranh Việt cho thấy thế thượng phong của Sotheby’s. Với tư cách là Cố vấn Cao cấp, anh đánh giá như thế nào về tầm quan trọng của việc một nhà đấu giá quốc tế sử dụng các chuyên gia bản địa trong việc mở khóa và định hình thị trường mỹ thuật tại Việt Nam?
Giám tuyển Ace Lê: Tôi có hân hạnh là người Việt đầu tiên được một nhà đấu giá hàng đầu như Sotheby’s bổ nhiệm làm giám tuyển và Cố vấn Cao cấp cho mảng tranh Việt Nam từ 2021. Trong 5 năm qua, đã có nhiều đơn vị khác bắt đầu đi theo chiến lược tương tự, và đó là một dấu hiệu vô cùng rõ ràng để thấy rằng thị trường quốc tế đã nhận ra tầm quan trọng của thị trường nghệ thuật Việt Nam, và chuyên môn của người Việt.
Công việc giám định, giám tuyển là xương sống của một sàn đấu giá. Một chuyên gia người nước ngoài nếu không đọc được những nghiên cứu viết bằng tiếng Việt, hoặc không có mạng lưới đọc được chữ Nôm, sẽ không làm tốt được nhiệm vụ xác tín khi lọc tác phẩm đưa lên phiên đấu.
![]() |
Như vậy, với “Hoa viên nhã đàm”, Vũ Cao Đàm đã có tác phẩm thứ hai vượt mức triệu đô, sau “Tắm tiên (Femmes au bain)” (1944) gõ búa năm 2020. Và với kỷ lục này, Sotheby’s cũng tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu thị trường tranh Việt với 4 kỷ lục trong top 5, 5 kỷ lục trong top 10 và 10 kỷ lục trong top 20. Nguồn: Ace Lê |
Từ cột mốc của phiên đấu giá mùa thu năm nay, anh dự báo như thế nào về diện mạo của thị trường tranh Việt trong 3 - 5 năm tới? Liệu dòng tiền từ các kỷ lục của thế hệ Đông Dương và Kháng chiến có tạo ra một hiệu ứng lan tỏa giúp các nghệ sĩ thuộc phân khúc Đương đại của Việt Nam có cơ hội bứt phá trên sàn quốc tế?
Giám tuyển Ace Lê: Tôi tự tin rằng nghệ thuật Việt sẽ còn khởi sắc nhiều, xuyên suốt ở các phân khúc Đông Dương, kháng chiến, và đương đại. Như tôi thường hay chia sẻ trong các bài giảng về thị trường, các tác phẩm Việt Nam nằm ở một vị trí đặc biệt: vừa có nền lịch sử thuộc địa cùng Đông Nam Á, lại có ngôn ngữ thẩm mỹ mà khối đồng Văn có thể cảm thụ. Vậy nên tiềm lực lan tỏa của nghệ thuật Việt là rất lớn, ở cả phạm vi nội địa và quốc tế, làm tiền đề cho chiến lực xây dựng thanh khoản lâu dài.
Phiên đấu giá mùa thu của Sotheby’s ghi nhận 18/18 tác phẩm được bán thành công, đạt tỷ lệ thanh khoản 100%. Dẫn đầu là Hoa viên nhã đàm của Vũ Cao Đàm với 3,69 triệu USD, vượt 51% mức ước tính cao nhất. Các tác phẩm nổi bật khác gồm Nhã nhạc (Mélodie) (1950) của Mai Trung Thứ (587.000 USD), Về nhà (Le retour) của Joseph Inguimberty (342.000 USD), Chờ đợi (Abandon) (1946) của Lê Phổ (277.000 USD), Đền Angkor Wat (1938) của Trần Bình Lộc (244.000 USD) và Công viên 15 của Trần Lưu Hậu (360.000 USD). Kết quả cho thấy sự hiện diện đáng chú ý của nhiều thế hệ nghệ sĩ Việt và Đông Dương trên sàn đấu giá quốc tế.



