Đây là cơ sở nhấn mạnh vai trò của con người và tri thức trong sự phát triển quốc gia. Nhìn lại 950 năm hình thành và phát triển Quốc Tử Giám, những giá trị về hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng hiền tài vẫn còn nguyên ý nghĩa, đồng thời đặt ra yêu cầu kế thừa, phát huy trong bối cảnh hiện nay.
Kế thừa truyền thống hiếu học, đổi mới giáo dục
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Ngọc, nguyên Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, nền giáo dục Nho học có những đóng góp quan trọng trong việc hình thành và phát triển truyền thống hiếu học của người Việt. Trong xã hội xưa, tầng lớp sĩ được coi trọng, nhưng vị trí xã hội của mỗi người không hoàn toàn cố định. Việc học tập, thi cử tạo cơ hội để nhiều người thay đổi vị thế, tham gia vào công việc của đất nước.
Vì vậy, truyền thống hiếu học không chỉ giới hạn trong một tầng lớp mà lan tỏa rộng khắp xã hội. Giá trị lâu dài của truyền thống giáo dục này là việc trau dồi kiến thức, đạo đức và năng lực, giúp mỗi người trưởng thành, trở thành người có ích, đóng góp cho đất nước và cộng đồng. Việc học không chỉ hướng đến việc đạt được địa vị xã hội mà còn góp phần hình thành nhân cách, nâng cao hiểu biết và ý thức trách nhiệm của mỗi người.
Bên cạnh những giá trị đó, nền giáo dục Nho học cũng bộc lộ những hạn chế. Mục tiêu học tập chủ yếu hướng đến việc làm quan, làm thầy hoặc đạt địa vị cao trong xã hội. Nội dung đào tạo nặng về đạo đức và kinh điển Nho giáo, trong khi chưa đề cao đúng mức giáo dục khoa học. Phương thức giáo dục còn mang tính khuôn phép, khuôn sáo và bảo thủ. Nền giáo dục Nho học ở Việt Nam kéo dài đến đầu thế kỷ XX. Năm 1919, triều đình tổ chức kỳ thi cuối cùng theo chế độ khoa cử Nho học, đánh dấu sự kết thúc của mô hình giáo dục này và quá trình chuyển sang nền giáo dục hiện đại.
Từ việc nhìn nhận cả giá trị và hạn chế của nền giáo dục trong lịch sử, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Ngọc nhấn mạnh yêu cầu giáo dục hiện nay cần kế thừa tinh thần hiếu học, ý chí học tập và yêu cầu cao đối với việc đào tạo con người, đồng thời đổi mới để đáp ứng nhu cầu phát triển của thời đại. Trong bối cảnh đất nước đặt ra yêu cầu phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, giáo dục cần chú trọng trang bị kiến thức khoa học, phát triển năng lực và khả năng sáng tạo.
Liên quan đến yêu cầu phát hiện và sử dụng người có năng lực, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn xác định nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia. Văn bản nhấn mạnh việc đánh giá nhân tài cần căn cứ vào phẩm chất, năng lực thực tế, sản phẩm cụ thể, uy tín nghề nghiệp và giá trị đóng góp trong thực tiễn, không đồng nhất nhân tài với người có bằng cấp cao, học hàm, học vị hay chức vụ quản lý.
Cần thêm tư liệu khoa học để làm rõ diện mạo di tích
Theo Tiến sĩ Hà Văn Cẩn, Viện trưởng Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, nghiên cứu khảo cổ tại khu vực Quốc Tử Giám có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung tư liệu, góp phần làm rõ quá trình hình thành và phát triển của di tích. Tuy nhiên, các đợt khảo sát, khai quật đến nay chủ yếu mới dừng ở quy mô thăm dò, với những hố khai quật có diện tích nhỏ, khoảng 1-2 m². Một số hiện vật thuộc các thời kỳ Lý, Trần, Lê, Nguyễn đã được phát hiện, nhưng số lượng còn hạn chế. Các nhà khoa học chưa xác định được những dấu tích kiến trúc đủ cơ sở để làm rõ nền móng, vị trí chân cột và mặt bằng các công trình của Quốc Tử Giám qua từng thời kỳ. Vì vậy, những kết quả khảo cổ hiện có chưa đủ để đưa ra nhận định toàn diện về cấu trúc và quy mô kiến trúc của khu di tích.
Theo Tiến sĩ Hà Văn Cẩn, để có thêm cơ sở khoa học nhận diện diện mạo Quốc Tử Giám trong lịch sử, cần tiếp tục nghiên cứu, mở rộng phạm vi và quy mô khai quật. Các dấu tích khảo cổ sau khi được phát hiện cần được phân tích, đối chiếu với tư liệu lịch sử, qua đó từng bước xác định vị trí, cấu trúc và mối liên hệ giữa các công trình kiến trúc. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ trong nghiên cứu và giới thiệu di tích như công nghệ dựng hình, tái hiện không gian ba chiều có thể hỗ trợ công chúng hình dung trực quan hơn về diện mạo di tích. Tuy nhiên, việc tái hiện cần dựa trên kết quả khảo cổ và các tư liệu lịch sử có độ tin cậy. Công nghệ có thể hỗ trợ thể hiện kết quả nghiên cứu, nhưng không thể thay thế việc khảo sát, khai quật và kiểm chứng các cứ liệu khoa học.
Cùng với công tác nghiên cứu, bảo tồn, việc đưa di sản đến gần hơn với công chúng, nhất là thế hệ trẻ, cũng là yêu cầu đặt ra hiện nay. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa. Nghị quyết cũng đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt trong năm 2026.
Tiến sĩ Hà Văn Cẩn cho rằng, với những giá trị lịch sử được lưu giữ qua nhiều thế kỷ, Văn Miếu – Quốc Tử Giám có điều kiện tiếp tục phát huy vai trò là địa chỉ giáo dục truyền thống. Các hoạt động tham quan, tìm hiểu lịch sử, tiếp cận tư liệu và trải nghiệm tại di tích góp phần giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ hơn về lịch sử giáo dục nước nhà, truyền thống hiếu học và những đóng góp của các thế hệ trí thức. 950 năm hình thành và phát triển Quốc Tử Giám là dịp nhìn lại những giá trị của nền giáo dục Việt Nam trong lịch sử. Tinh thần hiếu học, coi trọng tri thức và trọng dụng người tài vẫn có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay. Kế thừa truyền thống ấy cần gắn với đổi mới giáo dục, phát triển khoa học, công nghệ, tạo điều kiện để người có năng lực phát huy khả năng và đóng góp cho đất nước.