![]() |
Được UNESCO ghi danh năm 2000, Rừng ngập mặn Cần Giờ là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới đầu tiên của Việt Nam, với tổng diện tích hơn 75.000 ha. Hệ sinh thái rừng ngập mặn nơi đây được ví như “lá phổi xanh” của TP. Hồ Chí Minh. Từng bị tàn phá gần như hoàn toàn trong chiến tranh, Cần Giờ đã hồi sinh nhờ những nỗ lực phục hồi rừng bền bỉ và sự tham gia của cộng đồng địa phương.
Ngày nay, diện tích rừng ngập mặn đã đạt khoảng 35.000 ha, tạo môi trường sống cho gần 400 loài động vật và hàng trăm loài thực vật, cùng nhiều loài cá và chim di cư.Cộng đồng người Kinh, Khmer và Hoa duy trì sinh kế từ nuôi trồng thủy sản, làm muối và du lịch sinh thái, góp phần bảo vệ thiên nhiên và phát triển kinh tế địa phương.
![]() |
Được UNESCO công nhận lần đầu năm 2001 với tên gọi Cát Tiên và mở rộng thành Khu Dự trữ sinh quyển Đồng Nai năm 2011, khu vực này trải rộng hơn 756.000 ha. Vườn quốc gia Cát Tiên, một trong những vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển, là nơi sinh sống của hơn 2.800 loài động vật hoang dã và 2.300 loài thực vật, trong đó có nhiều loài bị đe dọa như voi châu Á, chà vá chân đen và cá sấu Xiêm.
Nơi đây có 13 nhóm dân tộc sinh sống, với các hoạt động sinh kế như nông nghiệp, đánh bắt và du lịch sinh thái. Cuộc sống của cộng đồng gắn liền với một trong những vùng rừng ẩm nhiệt đới tự nhiên quan trọng còn sót lại ở miền Nam Việt Nam.
![]() |
Được UNESCO ghi danh năm 2004, Quần đảo Cát Bà là nơi hội tụ của rừng, biển và núi đá vôi trong một hệ sinh thái đa dạng. Trải rộng hơn 26.000 ha với 366 hòn đảo lớn nhỏ, Cát Bà nổi bật với cảnh quan karst đá vôi kỳ vĩ, nơi những vách núi, hang động và dấu tích xói mòn kể lại lịch sử địa chất hàng triệu năm.
Quần đảo đã ghi nhận hơn 4.000 loài động, thực vật, trong đó có voọc Cát Bà, một trong 25 loài linh trưởng bị đe dọa nhất thế giới. Quần thể voọc đang từng bước phục hồi nhờ các nỗ lực bảo tồn với sự tham gia của cộng đồng địa phương.Năm 2023, Quần đảo Cát Bà cùng Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long – Quần đảo Cát Bà, ghi nhận những giá trị thiên nhiên nổi bật của vùng biển đảo Đông Bắc Việt Nam.
![]() |
Được UNESCO ghi danh năm 2004, Châu thổ sông Hồng là khu dự trữ sinh quyển liên tỉnh đầu tiên của Việt Nam, trải rộng hơn 105.000 ha trên hai tỉnh Ninh Bình và Hưng Yên. Đây là vùng đất ngập nước ven biển quan trọng, nơi những bãi triều, rừng ngập mặn và cửa sông tạo thành điểm dừng chân của các loài chim di cư trên tuyến đường bay Đông Á – Australasia.
Mỗi mùa thu, nhiều đàn chim nước di cư tìm về vùng đất ngập nước này, trong đó có cò thìa mặt đen, một loài chim quý hiếm được xếp vào nhóm Sắp nguy cấp theo Danh lục Đỏ IUCN.Người dân nơi đây gắn bó với nhịp thủy triều, duy trì những nghề truyền thống như làm muối, đan chiếu cói, làm nước mắm và phát triển du lịch sinh thái.
![]() |
Được UNESCO ghi danh năm 2006, Kiên Giang là khu dự trữ sinh quyển lớn thứ hai của Việt Nam, trải dài từ rừng tràm U Minh Thượng đến đảo Phú Quốc với diện tích hơn 1,18 triệu ha. Nơi đây quy tụ nhiều hệ sinh thái đa dạng, từ rừng ngập nước trong đất liền, rừng ngập mặn ven biển đến thảm cỏ biển và rạn san hô ngoài khơi.
Tại vùng đất ngập nước Phú Mỹ, những đồng cỏ bàng (Lepironia) là sinh cảnh kiếm ăn và trú chân quan trọng của sếu đầu đỏ trong mùa không sinh sản.Cộng đồng người Kinh, Khmer và Hoa duy trì sinh kế từ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, làm nước mắm và du lịch sinh thái.
![]() |
Được UNESCO ghi danh năm 2007, miền Tây Nghệ An là khu dự trữ sinh quyển trên cạn lớn nhất Việt Nam, với diện tích gần 1,3 triệu ha trải dài dọc dãy Trường Sơn và tiếp giáp Lào.
Khu dự trữ sinh quyển đã ghi nhận hơn 3.600 loài thực vật và gần 1.500 loài động vật. Đây là vùng sinh cảnh quan trọng đối với nhiều loài quý hiếm, trong đó có sao la, loài thú được mệnh danh là “kỳ lân châu Á”, và chà vá chân nâu.Các cộng đồng dân tộc như Thái, H’Mông, Đan Lai và Ơ Đu đã gắn bó với vùng đất này qua nhiều thế hệ. Từ nông nghiệp, đánh bắt đến dệt vải và nghề thủ công, cuộc sống của họ lưu giữ nhiều tri thức bản địa, nghi lễ và tập quán gắn liền với rừng.
![]() |
Nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, Cù Lao Chàm – Hội An là nơi rừng, sông, biển và di sản văn hóa hội tụ trong một không gian sống động. Được UNESCO công nhận năm 2009, khu dự trữ sinh quyển này bao gồm Đô thị cổ Hội An, Di sản văn hóa thế giới được ghi danh năm 1999, tạo nên một cảnh quan có hai danh hiệu UNESCO.
Với diện tích hơn 33.000 ha, nơi đây có các hệ sinh thái nối liền từ rừng trên đảo đến rạn san hô ngoài khơi, là môi trường sống của hơn 1.600 loài sinh vật biển, trong đó có rùa biển, trai tai tượng và cá mó đầu gù.Cù Lao Chàm – Hội An còn cho thấy vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và gìn giữ văn hóa: từ phong trào “Nói không với túi ni-lông” đến du lịch sinh thái và các nghề truyền thống ở Kim Bồng, Thanh Hà.
![]() |
Ở cực Nam của Tổ quốc, nơi đồng bằng sông Cửu Long gặp biển, Mũi Cà Mau được UNESCO ghi danh năm 2009 với diện tích hơn 371.000 ha. Vùng đất này không ngừng biến đổi dưới tác động của quá trình bồi tụ phù sa và xói lở ven biển, tạo nên những hệ sinh thái đặc trưng, nơi rừng ngập mặn chuyển tiếp sang rừng tràm ngập nước theo mùa.
Đây là điểm dừng chân quan trọng của nhiều loài chim di cư, với 208 loài chim được ghi nhận, trong đó có 56 loài di cư.
Người dân, chủ yếu là người Kinh, Khmer và Hoa, gắn bó với rừng và sông nước qua các mô hình nuôi tôm dưới tán rừng, canh tác tôm – lúa, khai thác mật ong và du lịch sinh thái.
![]() |
Được UNESCO ghi danh năm 2015, Langbiang trải rộng hơn 275.000 ha giữa cao nguyên Lâm Đồng, nơi rừng thông, rừng thường xanh ẩm và các hệ sinh thái nhiệt đới tạo nên một trong những vùng có đa dạng sinh học cao của Việt Nam. Vùng lõi Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà là nơi sinh sống của hơn 2.000 loài thực vật có mạch, hơn 300 loài lan và nhiều loài động vật quý hiếm.
Langbiang còn là không gian văn hóa sống động của người K’Ho, nơi tiếng cồng chiêng, nghề dệt thổ cẩm và những tri thức bản địa được trao truyền qua nhiều thế hệ, thể hiện mối gắn bó lâu đời giữa con người và núi rừng.
![]() |
Nằm ở vùng giao giữa hai cao nguyên Pleiku và Kon Hà Nừng, thuộc dãy Trường Sơn, khu dự trữ sinh quyển này được UNESCO ghi danh năm 2021, với diện tích hơn 413.000 ha. Những cánh rừng tự nhiên còn tương đối nguyên vẹn tạo nên một vùng sinh cảnh quan trọng của Tây Nguyên.
Nơi đây có hệ động vật phong phú với hơn 300 loài chim và khoảng 90 loài thú, trong đó nổi bật là chà vá chân xám, loài linh trưởng đặc hữu của Việt Nam, được xếp vào nhóm Cực kỳ nguy cấp, với quần thể ngoài tự nhiên ước tính chỉ còn khoảng 1.000 cá thể.Cộng đồng người Ba Na và Jrai cùng các nhóm dân tộc khác duy trì mối quan hệ gắn bó với rừng qua nghề dệt thổ cẩm, mây tre đan, canh tác nông – lâm kết hợp và du lịch văn hóa.
![]() |
Nằm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ khô hạn nhất Việt Nam, Núi Chúa, được UNESCO ghi danh năm 2021, là mô hình tiêu biểu của hệ sinh thái rừng khô nhiệt đới – hiếm thấy ở Đông Nam Á. Với diện tích hơn 106.000 ha, nơi đây là điểm gặp gỡ giữa rừng khô, biển san hô và thảm cỏ biển, tạo nên cảnh quan độc đáo bậc nhất.
Các bãi biển Núi Chúa là nơi sinh sản quan trọng của rùa biển, với những loài được ghi nhận trong khu vực như vích, đồi mồi và quản đồng.Người Raglai, Chăm và Kinh sống dựa vào nghề dệt thổ cẩm, làm gốm, thu hái mật ong và du lịch sinh thái, cùng nhau bảo vệ rừng và biển.
![]() |
Nằm trên dãy Bắc Trường Sơn và tiếp giáp với Vườn Quốc gia Hin Nam No (Lào), Phong Nha – Kẻ Bàng được UNESCO ghi danh là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới thứ 12 của Việt Nam vào năm 2026, với tổng diện tích hơn 515.000 ha.Vùng đất này sở hữu cảnh quan karst đá vôi cổ xưa hình thành cách đây khoảng 400 triệu năm, trong đó có hang Sơn Đoòng, hang động tự nhiên lớn nhất thế giới.
Nơi đây là mái nhà của gần 3.000 loài thực vật có mạch và khoảng 1.400 loài động vật, trong đó có những loài linh trưởng quý hiếm như vượn Siki, chà vá chân nâu và voọc Hà Tĩnh.
Cộng đồng người Kinh, Bru - Vân Kiều và Chứt gắn bó mật thiết với rừng, gìn giữ kho tàng tri thức bản địa cùng những nét sinh hoạt văn hóa độc đáo như Lễ hội đập trống của người Ma Coong hay Lễ hội trỉa lúa của người Bru - Vân Kiều.











