Chè xanh uống với đọi sành
Miếng cu đơ chia nửa sao đành xa quê.
Chè xanh nhiều vùng có, nhưng tôi tin chẳng nơi nào hình thành nên cái gọi là văn hóa chè xanh như người xứ Nghệ quê tôi. Huy Cận viết “Nước chè xanh xứ Nghệ, càng chát lại càng ngon/ tình xứ Nghệ không mau, nhưng bén rồi mà sâu lắng”. Người làng kể, Huy Cận xa quê từ lúc 5-6 tuổi. Sau này, ông thi thoảng mới có dịp về thăm nơi chôn nhau cắt rốn. Vậy mà bát nước chè xanh cứ hồn nhiên đi vào thơ ông như máu thịt. Tôi chẳng biết cắt nghĩa thế nào nên cứ gọi sự đồng điệu đó là nghĩa tình chè xanh.
Tôi có hỏi mấy vị cao niên ở làng về tục uống chè xanh. Các cụ gãi gãi đầu cắc cớ: “Choa (phương ngữ Hà Tĩnh - Chúng tôi) sinh ra đã thấy cha mẹ uống rồi, chứ biết có từ khi mô”. Sự lạ, theo tầm hiểu biết nông cạn của tôi, chè xanh không mọc hoang mà phải tự tay người trồng lấy. Chè xanh trồng trên núi đá cằn cỗi, núi càng bạc màu, khô khốc bao nhiêu lại cho ra cây chè uống thơm ngon bấy nhiêu. Bởi thế, dù làng tôi nằm bên sông, nhưng nhà nào cũng phải lên núi vỡ bãi đất hoang trồng chè. Người vỡ đất nhiều cụ giờ đã về với đất nhưng những địa danh như: “hốp mụ Mân”, “eo ông Kẹm”, “trại ông Manh”… con cháu ngàn đời còn nhớ.
![]() |
Tục uống chè xanh trở thành nét văn hóa đặc sắc của người xứ Nghệ |
Cách uống chè xanh của người quê tôi thoạt nhìn tưởng đơn giản lắm, nhưng ẩn chứa bên trong là cả một nghệ thuật ẩm thực vô cùng thú vị. Chè xanh sau khi được cắt về từ núi đá đem rửa sạch. Điều quan trọng nhất phải loại bỏ tất cả các loại cỏ dại, dây leo bám vào cây chè. Tôi không nói ngoa (nói quá) trong ấm (phương ngữ Hà Tĩnh - ấm) chè chỉ cần có một thứ lá nào khác xen vào coi như đổ đi. Không cần phải người tinh chè cỡ như tôi uống vào ngụm đủ nhận ra ngay.
Chè xanh có cái vị thơm, nồng đặc trưng của nó khó lẫn vào đâu được. Tôi tưởng chè xanh như cô thôn nữ kiêu sa, chân chất không muốn đứng chung phường con gái khác.
Chọn chè đã khó, nấu chè còn khó hơn triệu lần. Ấm nấu chè quê tôi thường chọn ấm Đồng, ấm Gang hình tròn tròn, chắc nịch, cứng rắn. Chè xanh già, rửa sạch, giữ nguyên cây, nguyên lá. Sau đó dùng tay vò lại, không vò nát mà chỉ đủ làm lá chè hơi nhàu. Nước nấu chè phải là nước giếng đào. Nước từ giếng ghép đá là tuyệt vời nhất. Thứ nước ấy cứ để thế múc lên rồi tu ừng ực từng ngụm đã đủ sung sướng. Nước trong vắt, mát lạnh. Cho nước vào ấm bắc lên bếp lửa. Phải canh cho lửa đều không được to không được nhỏ. Người nấu chè cần trực bên bếp chờ nước vừa sôi là nhắc xuống vần ngay bên than hồng. Nếu để lâu quá chè mất vị, hơi chua, gắt. Người quê gọi “nác bị lịt” (phương ngữ Hà Tĩnh). Tôi có tra từ điển nhưng chẳng thấy ở đâu giải nghĩa chữ “lịt” của quê. Nước chín đem rót ra ấm nhỏ hơn, đẹp hơn bằng nhôm, đậy chặt miệng ấm bằng nút lá chuối. Mùa đông phải đem ủ trong trấu giữ nhiệt. Ấm ấy đem ra mời khách.
Uống nước chè độ chát, nhạt tùy người uống mà pha chế. Như người xóm Biền quê tôi uống nước cực chát, chát đắng. Thức uống ấy ai không quen đành chịu. Người quen lúc đang đói bụng uống vào có khi ói cả mật xanh, mật vàng, mặt mày tái xanh. Đấy là cái sự say nước chè. Người say nước chè không như say rượu, say thuốc lào, say trầu chẳng có cảm giác hưng phấn ngược lại rất mệt mỏi.
Uống nước chè phải uống bằng chén sành, quê tôi gọi là đọi Thái Dương. Tôi cũng chẳng hiểu rõ nghĩa cách xưng hô này. Tôi áng chừng người làng ví đọi dùng uống nước sóng sánh như đựng cả thái dương bên trong. Chén sành mạ men trắng, có hoa văn, họa tiết phía ngoài càng hấp dẫn. Đọi uống nước phải để riêng ở nơi trang trọng, không lẫn lộn với bất cứ vật dụng dung tục nào khác.
Người rót chè nghiêng ấm rót thật đầy đọi. Đọi nước vàng ươm, óng ánh, tỏa hương thơm nghi ngút. Mùa đông đưa đọi nước chè lên mặt nghe cái hương thơm ấy tưởng chẳng còn gì tuyệt vời hơn.
Uống nước chè chẳng cần giữ ý cứ nhấp từng ngụm tùy thói quen. Nước vừa chát, vừa ngọt, bùi bùi, thơm thơm. Trên bàn nước nên có thêm miếng kẹo cu đơ. Làng tôi thường dùng kẹo lạc, một dạng như cu đơ nhưng không có bánh đa bọc bên ngoài. Nếu thiếu kẹo lạc có thể thay bằng lạc rang, khoai lang luộc, khoai gieo… tất tật đều được. Mà kể uống một mình nước chè cũng chẳng sao, cái dư vị ngọt ngào thanh khiết từ nước đã đủ làm ấm lòng.
Người quê không uống nước chè một mình. Mỗi nhà trước khi bắc ấm nước lên bếp đã cho trẻ con đi mời khắp làng. Trẻ con đi mời cứ chạy qua ngõ từng nhà dừng lại, lấy hơi, lên giọng mời dõng dạc như mấy thầy mõ rao việc làng. Cả đời tôi chẳng thể nào quên được lời mời ngày trước: “Mời ông …Bà … chú ... mự… sang nhà con uống nác”. Người được mời nghe thấy lên tiếng đáp lại: “Ừ, nghe rồi”. Người mời phải chờ cho đến khi có lời đáp mới thôi. Tôi ngày trước (bây giờ vẫn thế) gầy trơ xương, nhưng cứ cởi trần, đầu trần, chân đất, cầm cái gậy tre (sợ chó cắn) chạy khắp làng mời người uống nước. Trẻ con đi mời về, người lớn kiểm tra lại xem có sót nhà nào hay không. Cứ thế mỗi ngày hết nhà này lại đến nhà kia nấu nước mời làng.
Tục uống nước đó thành nét văn hóa đặc sắc, kết nối từng con người lam lũ với nhau. Tôi cũng gọi đấy là nghĩa tình chè xanh.
Người làng đến uống nước cùng lúc, kéo chật nhà, ngồi hết ghế, ngồi sang giường, có khi trải quạt mo ngồi xuống đất. Bên ấm nước chè bà con kể cho nhau nghe hàng trăm câu chuyện lượm lặt được. Người già kể chuyện ngày xưa giặc Pháp đô hộ, hạt gạo không có phải ăn rau dại thay cơm. Người đi bộ đội về kể cầm súng đứng cách quân Mỹ 2m mà không nỡ bắn. Người đi Sài Gòn, Hà Nội… đều có chuyện mới để kể. Rồi người làng bàn chuyện làm ăn, nhà trồng lúa, lạc năng suất cao chia sẻ bí quyết. Nhà có con lợn béo núc ních bày cách chăm sóc. Tất cả giọng kể hài hước, gần gũi, thân mật.
Trẻ con chưa hiểu chuyện nhưng chẳng thèm đi chơi mà ngồi hóng hớt. Ra đồng chăn bò lại đem khoe chiến tích lượm lặt với bạn.
Tôi đi học, nghe cô giáo đọc thơ: “Từ lưng đèo dốc đá mù che, các anh về xôn xao làng tôi bé nhỏ. Nhà lá đơn sơ nhưng tấm lòng rộng mở. Nồi cơm nấu dở bát nước chè xanh ngồi vui ta kể chuyện tâm tình bên nhau”. Tôi biết người lính ấy chắc chắn phải là người xứ Nghệ quê tôi. Tôi cũng yêu thơ từ những câu chuyện bình dị như thế.
![]() |
Nhà thơ Cù Huy Cận trong một lần về thăm quê |
Làng tôi có nhiều người thành đạt, có nhà thơ lớn Huy Cận, nhưng tất cả vẫn giữ được hồn quê. Về thăm làng Huy Cận viết: “Cụ già mời bát lạc rang / Lâu năm gặp mặt bàn sang Truyện Kiều. Ra về đầu núi trăng treo / Ai còn buộc đó chiều diều tuổi thơ”. Đấy là cái sự thừa nhận của một người con ưu tú về đất văn vật truyền thống cha ông. Như nhà tôi, ngày trước ông nội cũng học chữ “Ri me” (Tiếng Pháp), sau về đi dạy “Bình dân học vụ” xóa “giặc dốt” cho dân làng. Tôi tin nội giỏi lắm, đáng tiếc nội mất sớm, tôi lại ham chơi nên chẳng thừa kế được gì. Nội tôi và bây giờ là cha tôi “nghiện” chè xanh lắm. Không có ăn với các cụ chẳng sao nhưng thiếu bát chè xanh là mặt buồn rười rượi. Hẳn nội và cha hiểu thế nào là nghĩa tình chè xanh gấp ngàn lần một gã trai trẻ như tôi.
Hơn 10 năm, tôi xa làng rong ruổi tứ phương. Tôi vẫn nhớ tất cả về làng đặc biệt là đọi nước chè xanh ấm đượm. Giờ thi thoảng tôi mới về thăm làng. Tôi buồn vì làng khác xưa nhiều quá. Nhà nào giờ cũng kín cổng, cao tường, tách biệt nhau chẳng khác gì thành phố.
Người làng còn nấu chè xanh nhưng ít khi mời nhau. Cái nghĩa tình chè xanh thành nhợt nhạt. Người làng giờ thích khoe tiền, khoe của, thích xoi mói, châm chọc nhau hơn là hòa thuận.
Tôi thương cha tôi tự nấu ấm nước chè xong ngồi rót uống một mình. Cụ chẳng mời ai mà có mời chắc được mấy người đến. Cái mà tôi gọi là “văn hóa chè xanh” đang dần mất đi nhưng biết làm sao được. Tôi luôn tự vấn tại sao con người ta không thể vừa giàu có vừa sống tình cảm như xưa? Làm điều đó khó lắm sao?
Hôm nay ở Sài Gòn, tôi tự pha cho mình đọi chè xanh rồi ngồi nhấm nháp. Tôi mường tượng về làng, về con đường nhỏ thằng nhóc ngày xưa chạy lon ton đi mời bà con đến nhà uống nước. Mai kia tôi sẽ lại về làng. Tôi tự nấu chè xanh nhưng chẳng phải chạy đi mời hàng xóm. Giờ chắc chỉ còn mình tôi (à còn thằng bạn nối khố của tôi nữa, nó cũng yêu làng, yêu chè xanh lắm chứ).
Bài viết này tôi viết cho tôi, cho những chén nước chè xanh nuôi hồn tôi trong sáng. Tôi biết nên tự giữ cho mình nghĩa tình chè xanh ấm mãi.

