Nhìn lại giá trị di sản
Nhìn lại chặng đường 10 năm “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được UNESCO ghi danh, PGS.TS Đặng Văn Bài, nguyên Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, đánh giá: "Đây là dấu mốc tạo thêm động lực cho hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị di sản. Việc vinh danh của UNESCO đã trở thành động lực cho di sản văn hóa Việt Nam được bảo tồn và phát huy không ngừng”.
Tại chương trình tọa đàm kết hợp thực hành di sản ngày 2/11 ở đền Thượng ngàn Thánh Mẫu Thanh Sơn Linh Từ, Tây Thiên, xã Đại Đình, tỉnh Phú Thọ, ông đánh giá cao việc cộng đồng chủ động phối hợp tổ chức hoạt động hướng tới kỷ niệm 10 năm ghi danh. Cùng với phần thực hành, tọa đàm giúp người tham dự hiểu sâu sắc hơn những giá trị đa dạng của tín ngưỡng, góp phần đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của cộng đồng.
PGS, TS Đặng Văn Bài phân tích, tín ngưỡng thờ Mẫu mang tính bản địa, gắn với việc tôn thờ các lực lượng tự nhiên và đời sống của cư dân nông nghiệp lúa nước. Sự đề cao người mẹ, ghi nhận đóng góp của phụ nữ trong gia đình và xã hội là một giá trị đáng chú ý. Hướng tới cuộc sống hiện tại, tín ngưỡng còn gửi gắm khát vọng bình an, sức khỏe và cuộc sống tốt đẹp.
![]() |
Tọa đàm Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt trong ngày 02/10 tại Khu danh thắng Tây Thiên, đền Thượng ngàn Thánh Mẫu Thanh Sơn Linh Từ |
Phía sau dấu mốc ghi danh năm 2016 là nhiều năm nghiên cứu, trao đổi để nhận diện đầy đủ di sản. Nhớ lại hành trình ấy, GS.TS Nguyễn Thị Hiền, nguyên thành viên Hội đồng Thẩm định về Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO (nhiệm kỳ 2017–2020), cho biết công việc bắt đầu từ năm 2012. Khi đó, tỉnh Nam Định đại diện các tỉnh, thành ở châu thổ Bắc Bộ đứng ra tổ chức xây dựng hồ sơ, do Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam trực tiếp thực hiện. Là thư ký ban xây dựng hồ sơ, bà đã theo sát quá trình thảo luận, thống nhất cách nhận diện và giới thiệu di sản với UNESCO.
"Hồ sơ ban đầu mang tên “Nghi lễ chầu văn”. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu và các chuyên gia nhận thấy tên gọi này chưa bao quát đầy đủ nội hàm di sản. Qua nhiều cuộc họp, tên hồ sơ được điều chỉnh thành “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”. Đến giai đoạn thẩm định, phía UNESCO đề nghị bổ sung hai chữ “thực hành”. Sau khi tiếp tục trao đổi, xin ý kiến chuyên gia, tên gọi “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được thống nhất, phản ánh rõ hơn những hoạt động mà cộng đồng đang gìn giữ, trao truyền", GS.TS Nguyễn Thị Hiền cho biết.
Theo đó, chầu văn là thành phần quan trọng, không thể thiếu trong nghi lễ lên đồng, nhưng chỉ là một phần trong tổng thể thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Nếu giới hạn hồ sơ ở chầu văn, nhiều hoạt động và giá trị liên quan sẽ chưa được thể hiện đầy đủ. Việc xác định tên gọi vì thế gắn với yêu cầu làm rõ di sản bao gồm những gì, được cộng đồng thực hành và trao truyền ra sao.
Theo bà, mỗi mục trong biểu mẫu UNESCO có giới hạn dung lượng chặt chẽ, có phần chỉ được diễn đạt trong vài chục đến vài trăm từ. Để trình bày ngắn gọn mà đầy đủ, nhóm thực hiện phải thống nhất rõ nội hàm di sản.
![]() |
Sự kiện có sự tham gia đông đảo của cộng đồng địa phương, các nghệ nhân, người thực hành, cơ quan quản lý và các nhà khoa học |
Trong hành trình ấy, cộng đồng trực tiếp góp sức cùng nhóm nghiên cứu. Bà Hiền đặc biệt nhắc tới Nghệ nhân Ưu tú Trần Thị Kim Huệ, gia đình và các thanh đồng, cung văn tại Phủ Dầy cùng nhiều địa phương. Họ cung cấp thông tin, thảo luận về những thực hành trong tín ngưỡng, thể hiện sự đồng thuận, đồng thời hỗ trợ kinh phí cho các cuộc gặp, tọa đàm phục vụ xây dựng hồ sơ. Sau khoảng hai năm thực hiện, hồ sơ được hoàn thành vào đầu năm 2014 để trình UNESCO.
"Sự gắn bó của cộng đồng tiếp tục được duy trì sau dấu mốc ghi danh. Các nghệ nhân, những người thực hành, những thanh đồng, đạo quan đã rất nỗ lực duy trì, trao truyền, thực hành, bảo tồn và phát huy di sản sau khi được ghi danh”, GS, TS Nguyễn Thị Hiền nhận xét.
Giữ lề lối trong thực hành tín ngưỡng
Chia sẻ về giữ lề lối trong thực hành tín ngưỡng, nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tất Kim Hùng, thủ nhang đền Thanh Sơn Linh Từ, đồng trụ trì đền Nguyên Khiết Linh Từ (Hàng Bạc), quan niệm người thầy có trách nhiệm hướng dẫn người mới bước vào thực hành tín ngưỡng, giúp họ hiểu và tiếp nối những nghi thức cổ truyền.
“Người đồng thầy vẫn phải có sự học hỏi, chứ không phải ta là thầy thì không học. Chúng ta còn học nữa, học mãi. Nếu người thầy làm sai thì trò sẽ sai, mà đã sai thì ảnh hưởng đến cả một thế hệ sau. Phải thực hiện cho bài bản, nghi lễ cho chuẩn chỉnh thì khi trao truyền, tín ngưỡng mới được bảo tồn, phát huy những nét đẹp”, ông chia sẻ.
Trước ngày đệ tử ra trình đồng khoảng hai tuần, nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tất Kim Hùng thường mời họ đến trò chuyện, giải thích và hướng dẫn cách thực hiện nghi lễ. Ông cũng tự viết tài liệu để người học tìm hiểu. Những việc ấy cần được chuẩn bị từ trước, thay vì đợi đến khi hành lễ mới chỉ dẫn từng động tác, ảnh hưởng đến sự trang nghiêm. Việc trao truyền còn gắn với cách sống, từ hiếu thảo với cha mẹ, có trách nhiệm với gia đình đến vun đắp cuộc sống hòa thuận.
![]() |
Lễ rước trang nghiêm trước các màn loan giá phụng hành của 8 nghệ nhân ưu tú, đồng thầy |
Một trăn trở khác của nghệ nhân là việc sắm sửa, tổ chức nghi lễ quá mức. Theo nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tất Kim Hùng, sự phô trương, tốn kém dễ khiến công chúng e ngại, ảnh hưởng đến cách nhìn nhận những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng.
“Các lễ vật về hương, đăng, hoa, trà, quả, chúng ta làm có mức cho phù hợp với điều kiện, khả năng của từng thanh đồng. Từ lễ chay, lễ mặn, lễ sơn trang đến việc trang trí, chúng ta làm sao cho phù hợp. Mặc dù làm đẹp cho thánh nhưng chúng ta phải có mức”, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tất Kim Hùng bày tỏ.
Về khía cạnh không gian thiêng, nghệ nhân ưu tú Trần Thị Kim Huệ nhớ lại lần được mời thực hành tại một festival ở Hội An năm 2013, phục vụ quá trình xây dựng hồ sơ di sản, bà đã đề nghị chuẩn bị nơi thờ tự phù hợp để tiến hành nghi lễ.
“Tôi rất giữ lề lối, không hầu ở trên sân khấu. Tôi có nói với tỉnh Quảng Nam lúc đó tìm cho tôi một ngôi điện và xin rước bát nhang từ cửa Mẫu vào để hầu. Vì nơi thờ ở tầng hai rất chật, tôi phải nhờ một cậu đồng ở Đà Nẵng thiết lập ban thờ ở tầng một để các giáo sư và khách quốc tế đến dự”, bà chia sẻ.
Khi sang Hàn Quốc, nghệ nhân ưu tú Trần Thị Kim Huệ cũng mang theo tượng và bát nhang để thiết lập ban thờ. Đến Đài Loan, việc vận chuyển tượng khó khăn, bà chuẩn bị bài vị cùng bát nhang từ cửa Mẫu. Với bà, gìn giữ những yếu tố ấy là cách tôn trọng ý nghĩa phụng thờ khi giới thiệu di sản ở những không gian khác nhau.
Từ trải nghiệm của mình, bà Huệ bày tỏ quan điểm không đưa nghi lễ hầu đồng lên sân khấu, đồng thời mong các nhà khoa học và cơ quan quản lý tiếp tục hỗ trợ cộng đồng nhận diện, gìn giữ những phép tắc được trao truyền. Những băn khoăn ấy cho thấy, cùng với mong muốn di sản được biết đến rộng rãi, người thực hành còn đặt nặng trách nhiệm bảo vệ tính thiêng và lề lối của tín ngưỡng.
Chung sức, tạo nguồn lực bảo vệ di sản
Những sáng kiến gìn giữ di sản thường bắt đầu từ tâm huyết của người thực hành. Nhưng để tổ chức một cuộc gặp, một hoạt động trao truyền hay nghiên cứu, cộng đồng còn cần nhân lực, kinh phí và những điều kiện cụ thể.
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tất Kim Hùng chia sẻ, việc đưa nhà bạt, bàn ghế và các vật dụng phục vụ chương trình tại Đền Thượng ngàn Thánh Mẫu Thanh Sơn Linh Từ đòi hỏi nhiều công sức. Bên cạnh nội dung tọa đàm và thực hành là hàng loạt công việc chuẩn bị, bố trí đi lại, đón tiếp. Theo ông, nếu thiếu sự hỗ trợ của Công ty cổ phần Đầu tư Lạc Hồng, đền Thanh Sơn khó có thể tự tổ chức cuộc gặp với quy mô như vậy.
![]() |
Nghệ nhân Ưu tú Lê Bá Linh |
Từ thực tế này, PGS.TS Đặng Văn Bài nhìn nhận sự kết nối giữa cộng đồng thực hành, doanh nghiệp, nhà khoa học và chính quyền địa phương là một chuyển biến tích cực. Theo ông, hợp tác công tư trong bảo vệ di sản cần được cụ thể hóa bằng sự thỏa thuận, xác định rõ trách nhiệm và khả năng đóng góp của từng bên.
“Chúng ta phải có sự thỏa thuận giữa cơ quan quản lý nhà nước, đại diện cộng đồng, doanh nghiệp và các nhà khoa học. Phải phân vai rõ, chính quyền hỗ trợ cái gì, có cơ chế gì, cái gì được làm, cái gì phải cấp phép, cái gì phải xin phép”, ông phân tích.
Trong sự phối hợp ấy, cộng đồng chủ động đề xuất sáng kiến và huy động đóng góp của những người gắn bó với di sản. Các nhà khoa học hỗ trợ về chuyên môn; chính quyền hướng dẫn, tạo điều kiện để hoạt động được triển khai đúng quy định. Với những công việc vượt quá khả năng của từng thanh đồng, từng bản đền, sự tham gia của doanh nghiệp có thể bổ sung nguồn lực cần thiết. Mỗi bên đảm nhiệm một phần việc, cùng hướng tới nhu cầu bảo vệ, trao truyền mà cộng đồng đang đặt ra.
Tại tọa đàm, PGS.TS Đặng Văn Bài đề xuất nghiên cứu hình thức quỹ hỗ trợ bảo vệ, phát huy giá trị di sản thờ Mẫu tại Tây Thiên, có sự tham gia của các bên liên quan. Nguồn lực ấy có thể dành cho những công việc cần thời gian và sự phối hợp chuyên môn như nghiên cứu, tư liệu hóa các giá đồng, giải thích ý nghĩa nghi lễ, tìm hiểu những bản chầu văn. Khi có tư liệu để tham khảo, người thực hành thuận lợi hơn trong trao truyền, công chúng cũng có thêm cơ sở để hiểu những gì mình được chứng kiến.
![]() |
Đông đảo các nghệ nhân ưu tú, người thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ đã tề tựu về đền Thanh Sơn Linh Từ |
Điều ông đặc biệt lưu ý là cách sử dụng nguồn đóng góp. Dẫn ví dụ từ trải nghiệm tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh ở Thành phố Hồ Chí Minh, theo ông, những hoạt động trao hỗ trợ được ghi hình, có xác nhận của bên tiếp nhận và được giới thiệu lại để công chúng theo dõi. Việc làm cụ thể giúp người đóng góp biết nguồn tiền đã phục vụ đúng mục đích, từ đó có niềm tin để tiếp tục đồng hành.
“Minh bạch, công khai thì sẽ tạo được niềm tin của cộng đồng. Tạo được niềm tin rồi, việc vận động, tôi nghĩ, không khó lắm”, PGS.TS Đặng Văn Bài nhấn mạnh. Với ông, việc tạo nguồn thu cần hướng tới đầu tư trở lại cho di sản, đồng thời tránh lợi dụng tín ngưỡng để kiếm tiền bằng mọi giá.
Tám nghệ nhân, đồng thầy tham gia thực hành tại đền Thanh Sơn Linh Từ trong ngày 02/11/2026, góp phần gìn giữ lề lối nghi lễ và lan tỏa những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng thờ Mẫu tới cộng đồng, đồng thời hướng tới kỷ niệm 10 năm UNESCO ghi danh Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt, gồm:
1, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tất Kim Hùng - Thủ nhang trụ trì Thanh Sơn linh từ, đồng trụ trì Nguyễn Khiết Linh Từ.
2, Nghệ nhân Ưu tú Lê Bá Linh - Thủ nhang Nguyễn Khiết Linh Từ.
3, Nghệ nhân, Thanh đồng Nguyễn Hữu Mạnh - Thủ nhang trụ trì Đông Cuông Vọng Từ và Đền Trình Thánh Mẫu.
4, Nghệ nhân, Thanh đồng Bùi Ngọc Hồi - Thủ nhang trụ trì Tranh Giang Vọng từ.
5, Nghệ nhân, Thanh đồng Trần Văn Hải - Thủ nhang trụ trì Bát Hải vọng Từ, Thiên Sơn linh Từ, Đông Sơn linh Từ, Bồng Lai linh Từ.
6, Nghệ nhân, Thanh đồng Nguyễn Văn Hóa - Thủ nhang trụ trì Lạch Bạng linh Từ.
7, Nghệ nhân, Thanh đồng Nguyễn Thị Dung - Thủ nhang trụ trì Đông Cuông Vọng Từ.
8, Nghệ nhân, Thanh đồng Đoàn Thị Phương Anh - Thủ nhang trụ trì Tâm linh Điện.




