Khi lật mở những trang giáo trình triết học kinh điển, sự thiếu vắng của các tên tuổi nữ giới không đơn thuần là một sự tình cờ, mà phản ánh một cấu trúc loại trừ mang tính hệ thống. Thực tế này đặt ra một mối nghi vấn: Ai là người được công nhận tạo ra tri thức, và những tiêu chuẩn nào đã vô tình gạt bỏ những đóng góp của phái nữ ra khỏi dòng chảy tư tưởng chính thống?
Sự vô hình hóa ấy vận vận hành qua nhiều tầng nấc thiết chế và điều kiện xã hội. Trước thế kỷ XIX, việc các viện hàn lâm và các trường đại học lớn đóng cửa với nữ giới đã tước đi quyền tiếp cận học thuật và tranh biện công khai của họ.
Hệ quả là những tư tưởng của phụ nữ thường chỉ lưu truyền qua thư tín cá nhân, salon tư gia hoặc phải ẩn danh dưới tên nam giới trong gia đình. Cùng lúc đó, hệ thống học thuật truyền thống xem nhẹ các trước tác đó, xem phụ nữ là đối tượng nghiên cứu thay vì chủ thể tư duy độc lập.
Bất chấp những rào cản và bất bình đẳng về giới tính sâu sắc, nhiều nữ triết ra đã chọn cho mình một con đường riêng đầy kiên cường vươn lên để tạo ra những bước ngoặt lớn trong lịch sử.
Tiêu biểu như Hypatia tại Alexandria với những cống hiến cho toán học, thiên văn học và triết học tự do; hay Mary Wollstonecraft vào thế kỷ XVIII khi lập luận rằng sự thua kém của phụ nữ xuất phát từ việc bất bình đẳng trong giáo dục chứ không phải bản chất sinh học. Lập luận ấy ở thời điểm đó không chỉ là tiếng vang lớn giúp mọi người có cái nhìn khác về bình đẳng mà còn là bàn đạp giúp những nữ triết gia dám đứng lên để cống hiến cho kho tàng tri thức nhân loại.
Bước sang thế kỷ XX, Hannah Arendt đã định hình lại triết học chính trị qua các phân tích về chủ nghĩa toàn trị và bạo lực nhà nước. Song song với đó, Simone de Beauvoir đặt hiện tảng nền sinh nữ quyền thông qua việc mổ xẻ cấu trúc bất bình đẳng và khái niệm "kẻ khác" trong xã hội phụ quyền.