50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO - Khơi nguồn nội lực, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 2: Chuyển hóa hợp tác thành động lực phát triển

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO - Khơi nguồn nội lực, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 2: Chuyển hóa hợp tác thành động lực phát triển

Từ công cuộc Đổi mới, quan hệ Việt Nam – UNESCO dần vượt khỏi khuôn khổ hỗ trợ để đi vào chuẩn mực, chính sách và các chương trình chuyên sâu. Tri thức quốc tế được chuyển hóa thành năng lực trong giáo dục, văn hóa, khoa học, thông tin và truyền thông. Trên nền tảng ấy, Việt Nam chủ động thực hiện trách nhiệm thành viên, tham gia ngày càng sâu vào các cơ chế điều hành, duy trì tiếng nói, góp phần xây dựng đồng thuận và đóng góp vào công việc chung của UNESCO.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO - Khơi nguồn nội lực, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 2: Chuyển hóa hợp tác thành động lực phát triển ảnh 1

Sau năm 1986, quan hệ giữa Việt Nam và UNESCO đứng trước những yêu cầu đặc biệt. Bên cạnh nhu cầu phục hồi sau chiến tranh, đất nước bắt đầu bước vào quá trình mở cửa, điều chỉnh cơ chế quản lý và tìm kiếm những động lực phát triển lâu dài. Hợp tác quốc tế từ đây không thể chỉ dừng ở việc tiếp nhận chuyên gia, thiết bị hay hỗ trợ kỹ thuật. Việt Nam cần tiếp cận các chuẩn mực, phương pháp quản trị và mạng lưới tri thức để đổi mới tư duy, xây dựng chính sách và nâng cao năng lực trong nước.

Chuyển động trên diễn ra cùng với sự đổi mới trong đường lối đối ngoại. Đại hội VII của Đảng tiếp tục phát triển chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, mở rộng hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với các quốc gia. Trong môi trường mới, UNESCO trở thành một trong những kênh giúp Việt Nam gắn quá trình hội nhập với các lĩnh vực trực tiếp tạo nên nền tảng phát triển con người.

Ngày 19/10/1987, Việt Nam trở thành quốc gia thành viên Công ước năm 1972 về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới. Việc tham gia Công ước tạo cơ sở để Việt Nam tiếp cận những nguyên tắc và yêu cầu quốc tế trong nhận diện, bảo vệ và quản lý di sản. Di sản dần được đặt trong mối quan hệ rộng hơn với quy hoạch, môi trường, giáo dục, cộng đồng và sự phát triển của địa phương.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO - Khơi nguồn nội lực, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 2: Chuyển hóa hợp tác thành động lực phát triển ảnh 2

Một năm sau khi tham gia Công ước 1972, Việt Nam tích cực hưởng ứng Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa từ năm 1988 đến năm 1997 do Liên hợp quốc phát động và UNESCO điều phối. Các hoạt động nghiên cứu, hội thảo, trao đổi trong giai đoạn này góp phần mở rộng nhận thức về vị trí của văn hóa trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội. Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu và động lực của phát triển.

Kết quả nghiên cứu và trao đổi trong khuôn khổ Thập kỷ được giới nghiên cứu cùng các cơ quan chuyên môn Việt Nam đánh giá là nguồn tham khảo quan trọng cho quá trình hình thành Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Điều đó cho thấy Việt Nam đã tiếp nhận có chọn lọc những giá trị phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.

Trong giáo dục, hợp tác dần chuyển từ giải quyết nhu cầu cấp bách sang xây dựng khả năng học tập lâu dài trong xã hội. Việt Nam phối hợp với UNESCO triển khai Chương trình Giáo dục cho mọi người trong thập niên 1990, với sự hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật và kinh nghiệm của UNESCO cùng Chương trình Phát triển Liên hợp quốc.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO - Khơi nguồn nội lực, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 2: Chuyển hóa hợp tác thành động lực phát triển ảnh 3

Từ năm 1998, mô hình trung tâm học tập cộng đồng được thí điểm trong khuôn khổ chương trình tại khu vực châu Á và Thái Bình Dương. Việc đưa cơ hội học tập đến gần cộng đồng đã mở rộng đối tượng thụ hưởng ra ngoài trường học và độ tuổi giáo dục chính quy, tạo nền tảng cho quá trình xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời tại Việt Nam.

Các chương trình đào tạo, giáo dục người lớn, ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học tự nhiên và bảo tồn di sản cũng giúp đội ngũ quản lý, cán bộ chuyên môn và cơ sở nghiên cứu tiếp cận thêm những phương pháp quốc tế. Đầu thập niên 1990, các chuyến thăm và làm việc của Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor tại Việt Nam tiếp tục thúc đẩy hợp tác trong giáo dục, văn hóa, khoa học và thông tin.

Vào ngày 16/7/1999, Hà Nội vinh dự trở thành đại diện đầu tiên trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương được trao tặng danh hiệu UNESCO “Thành phố vì hòa bình”. Danh hiệu này là sự ghi nhận xứng đáng cho những thành tựu vượt bậc của thành phố trong việc nâng cao chất lượng sống, bảo vệ môi trường, phát triển giáo dục, chăm sóc thế hệ trẻ, gìn giữ di sản và thúc đẩy văn hóa hòa bình.

Sự kiện lịch sử này là minh chứng khẳng định hình ảnh một Việt Nam trên tiến trình hội nhập quốc tế luôn gắn liền với các thành tựu phát triển bền vững và giá trị nhân văn sâu sắc.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO - Khơi nguồn nội lực, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 2: Chuyển hóa hợp tác thành động lực phát triển ảnh 4

Ngày 27/7/2005, Chính phủ Việt Nam và UNESCO ký Bản ghi nhớ hợp tác, xác lập khuôn khổ phối hợp trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của tổ chức. Văn kiện ra đời khi Việt Nam đang đẩy nhanh hội nhập quốc tế, tạo điều kiện để hoạt động chuyên môn được triển khai ổn định hơn, đồng thời mở rộng sự tham gia của các cơ quan quản lý, giới nghiên cứu và cộng đồng.

Tinh thần mở rộng hợp tác ấy được thể hiện rõ trong giáo dục. Cũng từ năm 2005, Việt Nam tham gia Thập kỷ Giáo dục vì Phát triển bền vững kéo dài đến năm 2014. UNESCO hỗ trợ tổ chức hội thảo, đào tạo giáo viên và xây dựng tài liệu tích hợp kiến thức về biến đổi khí hậu, bình đẳng giới, công dân toàn cầu. Sau Thập kỷ, Việt Nam tiếp tục tham gia Khung hành động Giáo dục vì Phát triển bền vững 2030, phát triển Mạng lưới Thành phố học tập toàn cầu và mở rộng cơ hội học tập cho những nhóm còn gặp nhiều rào cản.

Năm 2016, sáng kiến đưa sách về nông thôn của Việt Nam được UNESCO ghi nhận bằng Giải thưởng Vua Sejong về xóa mù chữ. Sự kiện cho thấy một sáng kiến xuất phát từ xã hội Việt Nam đã tạo được tiếng vang quốc tế. Tiếp nối hướng đi này, chương trình We Are ABLE tập trung hỗ trợ trẻ em gái người dân tộc thiểu số, kết nối cơ quan quản lý giáo dục, trường đại học, doanh nghiệp và cộng đồng trong thúc đẩy giáo dục STEAM.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO - Khơi nguồn nội lực, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 2: Chuyển hóa hợp tác thành động lực phát triển ảnh 5

Trong lĩnh vực văn hóa, Việt Nam nộp văn kiện phê chuẩn Công ước năm 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể vào ngày 20/9/2005. Ngày 7/8/2007, Việt Nam tiếp tục nộp văn kiện phê chuẩn Công ước năm 2005 về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa. Việc thực hiện hai công ước gắn với đào tạo chuyên gia, kiểm kê di sản dựa vào cộng đồng, xây dựng kế hoạch bảo vệ sau ghi danh và hoàn thiện chính sách văn hóa.

Mạng lưới Các thành phố sáng tạo của UNESCO mở thêm không gian để văn hóa gặp gỡ thiết kế, thủ công, nghệ thuật dân gian và ẩm thực. Hợp tác cũng được mở rộng sang các ngành công nghiệp văn hóa, khởi nghiệp sáng tạo và du lịch dựa vào di sản, với sự tham gia của cộng đồng, thanh niên, phụ nữ và doanh nghiệp.

Ở khoa học tự nhiên, Chương trình Con người và Sinh quyển kết nối nghiên cứu, giáo dục môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế tại các khu dự trữ sinh quyển. Chương trình Khoa học địa chất và Công viên địa chất quốc tế thúc đẩy việc sử dụng tri thức địa chất cùng tri thức bản địa phục vụ phát triển địa phương. Việt Nam đồng thời hợp tác trong khuôn khổ Chương trình Thủy văn liên chính phủ và Ủy ban Hải dương học liên chính phủ về nguồn nước, đại dương, biến đổi khí hậu và khả năng chống chịu của các hệ sinh thái.

Các mạng lưới khoa học tiếp tục được nối dài qua hai trung tâm dạng 2 về Toán học và Vật lý, chương trình UNITWIN, các UNESCO Chair và hoạt động thúc đẩy khoa học mở. Trong khoa học xã hội và nhân văn, hợp tác từng bước đi vào những vấn đề mới như đạo đức trí tuệ nhân tạo, tác động của công nghệ và sự tham gia của phụ nữ, thanh niên trong khoa học.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO - Khơi nguồn nội lực, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 2: Chuyển hóa hợp tác thành động lực phát triển ảnh 6

Trong lĩnh vực thông tin và truyền thông, hợp tác được triển khai qua Chương trình quốc tế phát triển truyền thông, Chương trình Thông tin cho mọi người, Chương trình Hiểu biết truyền thông và thông tin cùng Chương trình Ký ức thế giới. UNESCO hỗ trợ nâng cao năng lực số cho nhà báo, người làm truyền thông và thanh niên, bảo tồn di sản tư liệu, thúc đẩy số hóa, mở rộng khả năng tiếp cận thông tin. Bình đẳng giới, quyền tham gia của cộng đồng dân tộc và cơ hội dành cho người trẻ được lồng ghép xuyên suốt các chương trình.

Ở cấp chính sách, UNESCO đồng hành với Việt Nam thông qua hợp tác kỹ thuật, chia sẻ tri thức và đối thoại, góp phần chuyển hóa các tiêu chuẩn toàn cầu thành hành động cụ thể. Tổ chức đã hỗ trợ xây dựng Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2021 - 2030, Luật Nhà giáo, áp dụng Phương pháp đánh giá mức độ sẵn sàng về AI phục vụ xây dựng Luật Trí tuệ nhân tạo và đóng góp ý kiến kỹ thuật cho Luật Di sản văn hóa sửa đổi. Từ giáo dục, văn hóa, khoa học đến môi trường thông tin, hợp tác chuyên môn ngày càng gắn chặt với chính sách và năng lực phát triển của Việt Nam.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO - Khơi nguồn nội lực, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 2: Chuyển hóa hợp tác thành động lực phát triển ảnh 7

Mức độ trưởng thành của một quan hệ đa phương còn được nhận diện qua khả năng tham gia thảo luận, đảm nhiệm trách nhiệm và đóng góp vào hoạt động chung. Từ đầu thế kỷ XXI, sự hiện diện của Việt Nam tại UNESCO ngày càng được mở rộng theo hướng đó.

Việt Nam đã năm lần tham gia Hội đồng Chấp hành UNESCO (nhiệm kỳ 1978–1983, 2001–2005, 2009–2013, 2015–2019 và 2021–2025), trong đó giữ vị trí Phó Chủ tịch giai đoạn 2001–2003. Việt Nam cũng được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng UNESCO tại hai kỳ họp liên tiếp vào năm 2023 và 2025; tham gia Ủy ban Di sản Thế giới, các ủy ban liên chính phủ thực thi Công ước 2003Công ước 2005, cùng các cơ chế về thủy văn, con người và sinh quyển. Sự hiện diện liên tục tại các cơ quan điều hành và chuyên môn cho thấy mức độ tín nhiệm cũng như khả năng đóng góp ngày càng rộng của Việt Nam trong UNESCO.

Mỗi nhiệm kỳ cũng đặt ra yêu cầu đối với năng lực theo dõi chương trình, chuẩn bị ý kiến, phối hợp giữa các cơ quan trong nước và tham gia xử lý những vấn đề được các quốc gia thành viên quan tâm. Vì vậy, giá trị của những vị trí này không nằm riêng ở số phiếu bầu. Quan trọng hơn là khả năng thực hiện trách nhiệm, duy trì tiếng nói và tham gia xây dựng đồng thuận trong một tổ chức có phạm vi hoạt động rộng.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO - Khơi nguồn nội lực, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 2: Chuyển hóa hợp tác thành động lực phát triển ảnh 8

Việt Nam đồng thời chủ động tạo không gian đối thoại ngay trong khu vực. Năm 2006, Hội nghị tham vấn các Ủy ban Quốc gia UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương được tổ chức tại Hà Nội. Đến năm 2012, Việt Nam tiếp tục đăng cai hội nghị. Đây là diễn đàn để các Ủy ban Quốc gia trao đổi và đóng góp ý kiến vào chương trình, ngân sách cùng định hướng hoạt động của UNESCO.

Việc được lựa chọn làm địa điểm tổ chức cho thấy Việt Nam đã có khả năng tập hợp các đầu mối trong khu vực và tham gia vào quá trình chuẩn bị những nội dung liên quan đến hoạt động của tổ chức. Qua những cuộc tham vấn như vậy, vai trò của một quốc gia thành viên được thể hiện bằng năng lực kết nối, điều phối và tạo điều kiện cho các bên cùng trao đổi quan điểm.

Chuỗi chuyến thăm của các Tổng Giám đốc UNESCO cho thấy quan hệ hai bên ngày càng được coi trọng. Năm 2005, Koïchiro Matsuura đến Việt Nam, đặt nền móng cho các chương trình hợp tác đa phương thế hệ mới. Năm 2010, Irina Bokova tham dự Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, Hà Nội, góp phần quảng bá lịch sử và văn hóa Việt Nam ra thế giới. Bà trở lại vào năm 2013 để dự kỷ niệm 10 năm Công ước 2003 tại Quảng Nam. Trong hai chuyến thăm chính thức vào các năm 2022 và 2025, Audrey Azoulay khẳng định Việt Nam là “một hình mẫu hợp tác hiệu quả” và đánh giá quan hệ hai bên đang ở giai đoạn tốt đẹp nhất từ trước đến nay.

50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO - Khơi nguồn nội lực, định hình vị thế kiến tạo | Kỳ 2: Chuyển hóa hợp tác thành động lực phát triển ảnh 9

Ở trong nước, cơ chế điều phối cũng tiếp tục được củng cố để đáp ứng yêu cầu tham gia ngày càng sâu. Ngày 30/1/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 194/QĐ-TTg về việc kiện toàn Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam. Ngày 14/2/2012, Quy chế hoạt động của Ủy ban được ban hành kèm theo Quyết định số 59/QĐ-UBQG UNESCO. Những bước kiện toàn này xác định rõ hơn trách nhiệm tư vấn, phối hợp và theo dõi hoạt động của các bộ, ngành, địa phương trong quan hệ với UNESCO.

Ngày 15/6/2012, nhân kỷ niệm 35 năm thành lập, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Phần thưởng ghi nhận đóng góp của nhiều thế hệ cán bộ, chuyên gia, nhà khoa học và nhà văn hóa đã tham gia công tác UNESCO từ trung ương đến địa phương. Phía sau những vị trí trên diễn đàn quốc tế là một hệ thống nhân lực và cơ chế phối hợp được tích lũy qua nhiều năm.

Nội dung - Thiết kế: Nguyệt Linh

Cảnh báo thủ đoạn giả danh cán bộ Công an đặt mua hàng để lừa tiền cọc
Cảnh báo thủ đoạn giả danh cán bộ Công an đặt mua hàng để lừa tiền cọc
(Ngày Nay) - Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Công an thành phố Cần Thơ vừa phát đi cảnh báo về thủ đoạn lừa đảo mới nhắm vào doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh thông qua hình thức giả danh cán bộ Công an hoặc cơ quan nhà nước đặt mua hàng hóa với số lượng lớn, sau đó dẫn dụ nạn nhân chuyển tiền đặt cọc cho doanh nghiệp "sân sau" do các đối tượng dựng lên để chiếm đoạt tài sản.
ASEAN Cup 2026: HLV Kim Sang Sik khẳng định mục tiêu đánh bại Indonesia
ASEAN Cup 2026: HLV Kim Sang Sik khẳng định mục tiêu đánh bại Indonesia
(Ngày Nay) - Chỉ giành được 1 điểm trước Singapore ở lượt trận trước, đội tuyển Việt Nam bước vào cuộc đối đầu với Indonesia ở bảng A ASEAN Cup 2026 với áp lực buộc phải thắng nếu muốn nắm quyền tự quyết trong cuộc đua giành vé vào bán kết. Dù thừa nhận sức ép rất lớn, nhưng HLV Kim Sang Sik khẳng định mục tiêu duy nhất của đội tuyển Việt Nam là giành trọn 3 điểm ngay trên sân Pakansari.
Ảnh minh họa.
Thí sinh tốp 30% xuất sắc có cơ hội nhận học bổng Chính phủ trước khi nhập học
(Ngày Nay) - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa đăng tải Dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số nội dung và biện pháp tổ chức thực hiện chính sách học bổng đối với người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược để lấy ý kiến rộng rãi các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định.