Diễn đàn nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đồng thời triển khai “Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số” của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.
Phát biểu khai mạc, bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, cho biết chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn đã trở thành những yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay.
Tuy nhiên, mức độ trưởng thành chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể vẫn còn thấp. Theo kết quả khảo sát của Viện Khoa học Kinh tế hợp tác được bà Cao Xuân Thu Vân dẫn tại diễn đàn, chỉ số trưởng thành chuyển đổi số của khu vực này mới đạt khoảng 29,5%, đang ở giai đoạn bắt đầu.
Theo bà Vân, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc hợp tác xã sở hữu bao nhiêu phần mềm hay thiết bị công nghệ, mà ở khả năng giải quyết những bài toán cụ thể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Bởi vậy, thay vì bắt đầu bằng câu hỏi “Mua công nghệ gì?”, hợp tác xã cần xác định mình đang gặp vấn đề gì và công nghệ có thể giúp giải quyết vấn đề đó như thế nào.
Từ quản lý vùng nguyên liệu, kiểm soát sản lượng, truy xuất nguồn gốc đến quản lý đơn hàng, kết nối khách hàng và giảm chi phí vận hành, chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra những thay đổi có thể đo lường được.
Trong hành trình này, dữ liệu được xác định là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của hợp tác xã. Khi được chuẩn hóa, dữ liệu giúp hợp tác xã nhìn rõ năng lực sản xuất, kiểm soát chất lượng, giảm chi phí và đưa ra quyết định sát hơn với nhu cầu thị trường.
Theo bà Cao Xuân Thu Vân, công nghệ có thể giúp chuẩn hóa thông tin từ nguyên liệu, quy trình, sản lượng, chất lượng đến chi phí. Qua đó, câu chuyện về sản phẩm được chuyển từ những thông tin mang tính cảm tính sang các dữ liệu có thể kiểm chứng.
Đây cũng là yếu tố ngày càng quan trọng trong nâng cao giá trị hàng hóa. Cùng một loại cà phê nhân xanh, giá bán có thể chênh lệch đáng kể tùy thuộc vào chất lượng cũng như khả năng chứng minh nguồn gốc và quy trình sản xuất.
Vì vậy, giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở bản thân sản phẩm mà còn nằm ở khả năng công khai, minh bạch và kiểm chứng những thông tin phía sau sản phẩm.
Từ dữ liệu, chuyển đổi số cần tiếp tục tạo ra hiệu quả trong quản trị và phát triển thị trường, giúp hợp tác xã tổ chức sản xuất tốt hơn, kiểm soát chất lượng, giảm chi phí, kết nối với doanh nghiệp và hệ thống phân phối, tham gia thương mại điện tử và từng bước đi sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Theo bà Vân, “thước đo” của chuyển đổi số vì thế không phải là hợp tác xã sở hữu bao nhiêu phần mềm, mà là quản trị được cải thiện ra sao, chi phí giảm thế nào, năng suất và chất lượng tăng bao nhiêu, thị trường mở rộng đến đâu và thu nhập của hợp tác xã, thành viên có được cải thiện hay không.
Từ góc độ quản lý nhà nước, ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho rằng một thực tế đáng lưu ý hiện nay là nhiều hợp tác xã khá hào hứng với các ứng dụng ở “đầu ra” như bán hàng, truy xuất nguồn gốc, trong khi dữ liệu quản trị ở “đầu vào” lại chưa đầy đủ.
Nếu dữ liệu đầu vào không chính xác, việc tạo ra dữ liệu minh bạch ở đầu ra sẽ gặp nhiều hạn chế.
Trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, ông Hạnh cho rằng hợp tác xã không nhất thiết phải tự xây dựng phần mềm hoặc đầu tư một hệ thống riêng. Thay vào đó, có thể ưu tiên các nền tảng dùng chung, thuê dịch vụ và chỉ đầu tư riêng khi thực sự cần thiết.
Các nền tảng này cần bảo đảm khả năng liên thông theo chuẩn dữ liệu quốc gia, đồng thời cho phép hợp tác xã xuất và sử dụng dữ liệu của mình, tránh tình trạng phụ thuộc vào một nhà cung cấp.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với quy mô và điều kiện hoạt động rất khác nhau của khu vực kinh tế tập thể.
Theo thống kê được đưa ra tại diễn đàn, cả nước hiện có 35.041 hợp tác xã, 164 liên hiệp hợp tác xã và 65.910 tổ hợp tác, thu hút gần 7,1 triệu thành viên và tạo việc làm cho khoảng 2 triệu lao động thường xuyên.
Với một hệ thống có quy mô lớn và đa dạng như vậy, việc lựa chọn giải pháp công nghệ cần xuất phát từ nhu cầu thực tế và khả năng đầu tư của từng nhóm hợp tác xã, thay vì áp dụng một mô hình chung cho tất cả.
Khoảng cách giữa việc đăng ký sản phẩm và năng lực cung cấp dữ liệu thực tế cũng được ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chỉ ra qua số liệu về truy xuất nguồn gốc.
![]() |
Ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường |
Tính đến ngày 31/8/2026, trong khoảng 800.000 sản phẩm đăng ký trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ, chỉ khoảng 158.000 sản phẩm có đầy đủ thông tin để truy xuất, tương đương 20%.
Con số này cho thấy thách thức không chỉ nằm ở việc đưa mã QR lên sản phẩm, mà quan trọng hơn là bảo đảm dữ liệu phía sau mã QR đầy đủ, chính xác và có khả năng kiểm chứng.
Theo ông Tuất, mã QR chỉ là “cửa sổ” để người tiêu dùng tra cứu, còn giá trị cốt lõi nằm ở dữ liệu phía sau. Dữ liệu phải được ghi nhận đúng thời điểm, kiểm tra, xác nhận và xuyên suốt từ sản xuất đến thị trường.
Yêu cầu này ngày càng rõ khi các thị trường quốc tế tăng cường kiểm soát dữ liệu trong chuỗi cung ứng. Với sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc, vùng trồng và cơ sở đóng gói phải được quản lý bằng mã số. Trong khi đó, các yêu cầu về chống phá rừng cũng đặt ra đòi hỏi ngày càng cao về dữ liệu địa lý đối với cà phê, cao su và gỗ.
Thực tế thí điểm truy xuất nguồn gốc sầu riêng trong nửa đầu năm 2026 cho thấy hiệu quả rõ rệt khi dữ liệu được kết nối đồng bộ. Theo đó, khi dữ liệu được quản lý xuyên suốt từ vùng trồng, nông hộ, doanh nghiệp đến lô hàng, thời gian từ thu hái đến thông quan được rút ngắn từ 15–20 ngày xuống còn 6–11 ngày.
Trong chuỗi này, hợp tác xã được kỳ vọng đóng vai trò trung tâm trong hướng dẫn thành viên ghi chép thống nhất, tập hợp và quản lý dữ liệu lô hàng, đồng thời kết nối với cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ và đối tác tiêu thụ.
Những trao đổi tại diễn đàn cho thấy chuyển đổi số trong hợp tác xã đang đứng trước yêu cầu chuyển từ “số hóa hoạt động” sang “tạo giá trị từ dữ liệu”.
Khi dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối, chuyển đổi số không chỉ giúp hợp tác xã quản lý tốt hơn những gì đang có, mà còn tạo điều kiện để sản phẩm bước ra thị trường rộng hơn, minh bạch hơn và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
