Tỷ lệ lao động của Việt Nam cao nhất tại Đông Nam Á

0:00 / 0:00
0:00
(Ngày Nay) - Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam cao nhất trong khu vực Đông Nam Á với mức 76,8%, độ tuổi từ 25-49 tuổi tham gia vào lực lượng lao động rất cao từ 95,2%-96,7%.
Tỷ lệ lao động của Việt Nam cao nhất tại Đông Nam Á

Cụ thể, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở phụ nữ là 76,8% cũng là tỷ lệ khá cao có thể bị hiểu nhầm là một chỉ báo về mức độ bất bình đẳng giới tương đối thấp trong tham gia lực lượng lao động khi tỷ lệ này ở nam giới cũng chỉ ở mức 81,9%.

Trong các vùng kinh tế, sự chênh lệch giữa tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2019 ở nam và nữ cao nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long khi tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 66,1%, nam là 83,8% (chênh lệch 17,7 điểm phần trăm).

Tiếp đến là Đông Nam Bộ có tỷ lên tương ứng là 64,2% và 79,1% (chênh lệch 14,9 điểm phần trăm), vùng Bắc trung bộ và Duyên hải miền trung có 75,2% và 83,3% (chênh lệch 8,1 điểm phần trăm).

Tại Tây Nguyên 80,3% và 87,7% (chênh lệch 7,4 điểm phần trăm), Đồng bằng Sông Hồng 70,8% và 76,8% (chênh lệch 6 điểm phần trăm), Trung du và miền núi phía Bắc có mức chênh lệch thấp nhất cả nước là 3,5 điểm phần trăm khi các tỷ lệ tương ứng lần lượt là 84,5% và 88%.

Quy mô lao động có việc làm trong nền kinh tế cũng liên tiếp tăng theo thời gian, từ 53,7 triệu người năm 2017 lên 54,6 triệu người năm 2019, trong đó lao động nam tăng từ 27,9 triệu người lên gần 28,8 triệu người và lao động nữ tăng từ 25,8 triệu người lên 25,9 triệu người.

Chuyển dịch cơ cấu lao động tiếp tục theo xu hướng tăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản.

Nếu xem xét riêng 2 nhóm của việc làm dễ bị tổn thương (lao động tự làm và lao động gia đình), có thể nhận thấy rằng lao động tự làm ở nam giới và nữ giới của Việt Nam là tương đương nhau. Tuy nhiên, phụ nữ có nguy cơ trở thành lao động gia đình cao hơn gấp đôi so với nam giới.

Năm 2019, 2/3 lao động gia đình ở Việt Nam là phụ nữ (5 triệu lao động gia đình là nữ). Họ chiếm gần 1/4 việc làm của phụ nữ nông thôn (17,6 triệu lao động nữ nông thôn), so với chỉ 2,7 triệu lao động gia đình là nam giới, chiếm 13% của tổng số việc làm của nam giới ở nông thôn (19,5 triệu).

Số liệu về vị thế việc làm cho thấy những bất lợi đáng kể của phụ nữ khi tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận và làm công việc ổn định thấp hơn nam giới. Xem xét số liệu về cơ cấu lao động trong nền kinh tế theo vị thế làm việc cho thấy chỉ 43% phụ nữ có việc làm là lao động làm công ăn lương, so với 51,4% nam giới có việc làm.

Trong khi lao động gia đình không được trả công ở nam giới là 9,2%, con số này ở nữ giới cao gấp hơn 2 lần, 19,4% trong năm 2019. Tỷ lệ nữ làm công ăn lương tăng từ 37,9% trong năm 2017 lên 43% trong năm 2019, số liệu này cho thấy tính khả thi của mục tiêu đề ra tại chỉ tiêu 1, mục tiêu 2 của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 đề ra “tăng tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương lên đạt 50% vào năm 2025 và khoảng 60% vào năm 2030”.

Chỉ tiêu 2 mục tiêu 2 của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới cũng đề ra “Giảm tỷ trọng lao động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp trong tổng số lao động nữ có việc làm xuống dưới 30% vào năm 2025 và dưới 25% vào năm 2030”. Hiện tỷ trọng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp có xu hướng giảm dần nhưng vẫn chiếm đến 35,9% ở nữ giới và 33,2% ở nam giới trong năm 2019.

Nguồn lao động dồi dào và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cao nhưng chỉ hơn 1/5 số lao động có việc làm đã qua đào tạo (22,6% năm 2019) và có sự khác biệt rõ rệ giữa nam giới và nữ giới khi cứ 4 lao động nam có việc làm thì có 1 người đã qua đào tạo (tỷ lệ 25%), ở nữ giới thì cứ 5 lao động có việc làm thì mới có 1 người đã qua đào tạo (tỷ lệ 20%). Tỷ lệ này đặc biệt thấp với lao động nữ thuộc khu vực nông thôn (chỉ đạt 12,3% năm 2019) chỉ bằng gần 1/3 tỷ lệ của khu vực thành thị (36,3%).

Nhằm thúc đẩy việc thực hiện được Chỉ tiêu 2 mục tiêu 2 của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đề ra “Giảm tỷ trọng lao động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp trong tổng số lao động nữ có việc làm xuống dưới 30% vào năm 2025 và dưới 25% vào năm 2030”, các nguồn lực dành cho đào tạo, dạy nghề vẫn cần được ưu tiên nhiều hơn cho khu vực nông thôn, đặc biệt là nữ tại khu vực nông thôn.

Theo vùng kinh tế, Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ lao động nữ đang làm việc đã qua đào tạo thấp nhất là 11,9%, tiếp đến là Tây Nguyên 13,6%, Trung du và miền núi phía Bắc 15,9%, Bắc trung bộ và Duyên hải miền trung là 18,4%, Đông Nam Bộ 25,1% và cao nhất là Đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ 27,8%.

Lễ cấp sắc của người Dao Đỏ xã Mỏ Vàng, tỉnh Lào Cai tạo điểm nhấn du lịch hấp dẫn.
Khai thác nguồn lực văn hóa dân tộc thiểu số
(Ngày Nay) - Sau sắp xếp đơn vị hành chính, trên nền tảng nguồn lực di sản được bổ sung và không gian văn hóa giàu bản sắc, các địa phương kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và khai thác giá trị truyền thống, từng bước hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa phục vụ phát triển du lịch.
“Vé về thanh xuân” - Chuyến tàu tái hiện ký ức tuổi trẻ
“Vé về thanh xuân” - Chuyến tàu tái hiện ký ức tuổi trẻ
(Ngày Nay) - Tối 25/4, tại Cung Thể thao Điền kinh (Hà Nội), đêm nhạc “Vé về thanh xuân” đã tái hiện hành trình ký ức đầy cảm xúc, từ những rung động đầu đời học sinh đến những chiêm nghiệm sâu sắc tuổi trưởng thành. Đêm nhạc không chỉ là sân khấu hội ngộ của nhiều thế hệ nghệ sĩ, mà còn tạo nên không gian trải nghiệm đặc biệt cho công chúng yêu nhạc.
Mô hình hoạt động 'Ngày thứ 6 không hẹn" tại Đồng Nai đã đáp ứng nhu cầu nhận kết quả ngay trong ngày của người dân.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp cơ sở, năng lực cán bộ cấp xã
(Ngày Nay) - Song hành cùng lộ trình sắp xếp, tổ chức tinh gọn bộ máy đảm bảo hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và đưa đất nước phát triển, ngày 24/4 vừa qua, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2027 và Nghị quyết về thành lập Đoàn giám sát chuyên đề về “việc thực hiện chính sách, pháp luật trong quản lý, sử dụng tài sản công là trụ sở làm việc sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính”.
Ảnh minh họa
Nghiên cứu hoàn thiện thể chế phát triển hệ thống giáo dục
(Ngày Nay) - Trong bối cảnh đổi mới đòi hỏi những đột phá về phát triển giáo dục, việc nghiên cứu, xác lập cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế hệ thống giáo dục là yêu cầu cấp thiết, nhằm tạo động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Cơ quan chức năng kiểm tra an toàn thực phẩm tại một cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ở Hà Nội.
Siết chặt quản lý an toàn thực phẩm
(Ngày Nay) - Hằng năm ngành y tế đã phát hiện, xử lý hàng trăm nghìn tổ chức, cá nhân vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng số vụ ngộ độc thực phẩm tại các bếp ăn tập thể, ngộ độc thức ăn đường phố đang có xu hướng gia tăng. Để giải quyết vấn đề nêu trên mang tính dài hạn, chiến lược và xuyên suốt, Bộ Y tế, các bộ, ngành liên quan cần chuyển mạnh tư duy quản lý an toàn thực phẩm từ “kiểm soát từng khâu riêng lẻ” sang “quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm”.
Trao tặng nhiều phần quà cho các bạn giao lưu, viết cảm nhận, ước mơ, vẽ tranh, tô màu
500 cuốn sách chuyền tay nhau trong “Mở Sách – Mở Tương Lai”
(Ngày Nay) -Trong chuỗi hưởng ứng Ngày sách và Văn hóa đọc Việt Nam, chương trình “Mở Sách – Mở Tương Lai” tiếp tục hành trình mang “chuyến xe tri thức” đến với các bạn nhỏ Trường Tiểu học Tân Đông Hiệp, phường Tân Đông Hiệp, TPHCM hôm 25/4.