Khởi Thủy là Gốm!

Khởi Thủy là Gốm!

Bước vào gốm như trở về một nguồn khơi của sáng tạo, “Khởi Thủy” không chỉ là cuộc ra mắt gốm cá nhân đầu tiên của nghệ sĩ Nguyễn Thu Thủy mà còn mở ra một hành trình chậm rãi, nơi truyền thống, ký ức và bản thể gặp nhau trong sự giao hòa của đất, nước, lửa.

__________________

Khi mặt phẳng mở ra khối hình

Trước khi đến với gốm, nghệ sĩ Nguyễn Thu Thủy đã có một hành trình bền bỉ trong hội họa. Ba triển lãm cá nhân “Ghép ký ức” (2021), “Lăng kính của Thủy“ (2022) và “Muôn mặt nhân gian“ (2024) đã xác lập một ngôn ngữ tạo hình nhất quán.

Phong cách polygon trở thành dấu hiệu nhận diện của chị. Nơi gương mặt, nhân hình và thú vật được phân mảnh thành các ô đa giác trên mặt phẳng hai chiều. Cách tổ chức hình ảnh ấy vừa phản ánh nhịp điệu thị giác của thời đại công nghệ, vừa tra vấn những câu hỏi về bản thể và đời sống nội tâm trong một xã hội vận hành ngày một gấp gáp.

Cơ duyên đến với gốm của Nguyễn Thu Thủy bắt đầu từ một lời mời của họa sĩ Hoàng Nghĩa Hiệp, nguyên phụ trách Khoa Đồ họa Trường ĐH Mỹ thuật Công nghiệp. Trong bối cảnh giãn cách do đại dịch COVID-19, khi nhịp sống xã hội đột ngột chùng xuống, khoảng lặng hiếm hoi ấy mở ra cho nữ nghệ sĩ một không gian khác để thực hành và suy ngẫm.

Khởi Thủy là Gốm! ảnh 1

Chị tiếp cận gốm với tâm thế của một người thợ học nghề, đi từ đầu và thật chậm. Thủy luyện đất, xeo đất, cảm nhận độ ẩm của vật liệu, căn thời tiết cho từng công đoạn, rồi lần lượt nghiên cứu men và quy trình nung. Mỗi bước đều đòi hỏi ở chị sự chính xác, kiên nhẫn và khả năng chấp nhận rủi ro. Bởi không cần là “người trong làng” cũng biết gốm thiên hình vạn trạng, luôn chứa sẵn mọi khả thể của thành công lẫn thất bại, mà không hề báo trước.

Trong quá trình lao động chậm rãi, giàu tính thể nghiệm ấy, gốm dần trở thành không gian để Nguyễn Thu Thủy soi chiếu lại bản thân. Những cung bậc cảm xúc đan xen, từ tích cực đến tiêu cực, đã thôi thúc chị rời khỏi bề mặt toan quen thuộc để đối diện trực tiếp với khối hình ba chiều. Đó là không gian của đất và lửa, những nguyên tố dữ dội và chẳng hề vô tri. Chúng biết buộc người làm gốm phải lắng nghe, biết nhắc nhở những kẻ muốn nhào nặn phải chấp nhận giới hạn của mình.

Từ nền tảng những thực hành sáng tạo không kém phần nặng nhọc ấy, triển lãm Khởi Thủy xuất hiện với tư cách hệ quả tất yếu, hơn là cột mốc ghi dấu cho một cuộc rẽ rào. Triển lãm giới thiệu 36 tác phẩm thuộc hai bộ “Tiếng vọng” và “Luân hồi”, khái lược sự dịch chuyển từ mặt phẳng sang không gian, từ cái nhìn sang trạng thái dấn thân, theo đúng nghĩa của từ này. 30 tác phẩm “Tiếng vọng” là các tượng bán thân gốm, 6 tác phẩm “Luân hồi” là những khối điêu khắc tròn, được sáng tác trong giai đoạn 2021 đến 2025, phản ánh một tiến trình tư duy liền mạch, được tưới tắm song song cùng hội họa.

Khởi Thủy là Gốm! ảnh 2

Và tên gọi “Khởi Thủy” mở ra nhiều tầng nghĩa. Đó là khởi nguyên của một hành trình mới với gốm, đồng thời không quên gợi nhắc chính tên người tạo ra chúng. Quan trọng hơn, yếu tố nước được đặt ở vị trí trung tâm như nguyên tố tối trọng của nghệ thuật gốm, nơi đất và lửa chỉ thực sự vận hành khi có sự hiện diện của nước, sự hiện diện của Thủy. Cách đặt tên này cho thấy Nguyễn Thu Thủy nhìn gốm như một hệ sinh thái tạo hình hoàn chỉnh, khi vật liệu, ký ức cá nhân và ý thức bản thể giao hòa, cùng định hình một ngôn ngữ riêng.

Cuộc đối thoại với quá khứ

Triển lãm “Khởi Thủy” diễn ra tại sảnh giữa Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật 22 Hàng Buồm, hay tên gọi xưa là Hội quán Quảng Đông, một công trình có tuổi đời gần hai thế kỷ. Không gian này mang trong mình nhiều lớp thăng trầm của Hà Nội, đồng thời đang được định hình là điểm gặp gỡ mới cho các thực hành nghệ thuật đương đại.

Giữa bối cảnh ấy, triển lãm của nghệ sĩ Nguyễn Thu Thủy được xem là một trong những nỗ lực đầu tiên khai thác chất liệu gốm như một ngôn ngữ đương đại tại địa điểm này. Các tác phẩm gốm độc bản của chị tạo nên cuộc đối thoại trực tiếp với di sản gốm Cây Mai hiện diện ngay trong không gian hội quán. Đây là dòng gốm cổ đạt đến trình độ tinh xảo cao, với một số tác phẩm hiện được định giá lên tới hàng triệu đô la.

Dẫu vậy, sự đặt cạnh giữa hai nhóm tác phẩm của quá khứ và hiện tại không mang tính phô trương. Trái lại, nó gợi mở một mối liên hệ kín đáo giữa hai thời điểm sáng tạo, nơi gốm không chỉ là hiện vật lịch sử mà còn là một dòng chảy chuyên chở tư duy tạo hình qua nhiều thế hệ.

Khởi Thủy là Gốm! ảnh 3

Chia sẻ với Ngày Nay, họa sĩ lão thành Lê Ngọc Hân, cựu giảng viên ngành Gốm nhận xét rằng “Khởi Thủy” đánh dấu một giai đoạn chín muồi trong tư duy sáng tác của Nguyễn Thu Thủy, khi người nghệ sĩ có đủ độ lùi để bước vào chất liệu gốm không còn như một thử nghiệm nhất thời mà như một lựa chọn có ý thức. Theo ông, triển lãm góp thêm một lát cắt đáng chú ý cho bức tranh gốm Việt Nam đương đại, nơi truyền thống không bị dập khuôn mà được tiếp nhận lại thông qua trải nghiệm cá nhân, trên nền một ngôn ngữ tạo hình mới.

Từ góc nhìn biểu tượng, nhà nghiên cứu Phạm Minh Quân cho rằng Bát Tràng đối với Nguyễn Thu Thủy vừa là một miền đất, vừa là một trạng thái tinh thần. Giữa vô số dáng lọ quen thuộc như lục bình men lam, chum nâu cỡ đại hay đĩa gốm chạm rồng phượng, chị tìm thấy một sự im lặng đủ rộng để bắt đầu. Đó là sự im lặng cho phép lắng nghe không chỉ âm thanh của đất và lửa, mà còn là tiếng nói của chính mình.

Sự lắng nghe ấy thể hiện rõ trong cách Nguyễn Thu Thủy đối diện với những giới hạn kỹ thuật của gốm. Trong thế giới gốm sứ, hiếm ai dám vẽ hàng trăm mảng màu men khác nhau trên cùng một bề mặt. Thông thường, nghệ nhân chỉ chọn một hoặc hai loại men để tránh nguy cơ chảy, loang và hủy hoại toàn bộ tác phẩm. Nhưng với Nguyễn Thu Thủy, giới hạn ấy không phải là rào cản, mà là một lời mời thách thức.

Nhận xét về điều này, họa sĩ Nguyễn Mai Hương, Chủ tịch Hiệp hội Nghệ sĩ châu Á chi nhánh Việt Nam, cho rằng nếu trong tranh acrylic, Nguyễn Thu Thủy phân mảnh gương mặt thành các ô màu tam giác trên mặt phẳng, thì trong gốm, chị phân mảnh con người thành nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau trên hình khối ba chiều. Nếu “Tiếng vọng” là cuộc đối thoại với con người, thì “Luân hồi” mở ra cuộc đối thoại với vũ trụ. Như nước có thể là sông, là biển, là mây, là mưa, nghệ thuật của Nguyễn Thu Thủy chảy qua nhiều hình thức, từ đồ họa đến hội họa, từ tranh đến gốm, mà vẫn giữ được bản chất của mình, đó là khát vọng biểu đạt cái đẹp và chiều sâu cảm xúc của con người.

Ươm mầm trải nghiệm về gốm

Trong khuôn khổ “Khởi Thủy”, các workshop gốm được nghệ sĩ Nguyễn Thu Thủy xem như hoạt động mở rộng của tư duy sáng tác. Với chị, đó vừa là giáo dục nghệ thuật, vừa là trải nghiệm sáng tạo, vừa là cách để công chúng tiến gần hơn tới gốm như một ngôn ngữ đương đại. Khi trực tiếp hướng dẫn những người không chuyên, điều chị mong họ mang về không chỉ là một sản phẩm hoàn chỉnh, mà đồng thời là một ký ức và một cách nhìn khác về gốm và sáng tạo.

Chia sẻ với Ngày Nay, họa sĩ Nguyễn Thu Thủy cho biết trải nghiệm giữ vai trò trung tâm. Lớp men trước khi vào lò có thể chỉ là những sắc xám đục, nâu nhạt, thậm chí xỉn màu, nhưng sau nhiệt độ cao, mọi thứ biến đổi hoàn toàn. Những gam đỏ, xanh rực rỡ bất ngờ hiện ra, hay những vệt men chảy loang tự nhiên mà không ai có thể đoán trước. Mỗi lần mở lò là một khoảnh khắc pha trộn giữa hồi hộp, ngỡ ngàng, vui sướng, đôi khi là tiếc nuối.

Đó là cảm xúc không thể lặp lại, bởi mỗi mẻ nung đều là duy nhất, mỗi tác phẩm đều mang theo yếu tố ngẫu nhiên của lửa và men. Chị muốn người tham gia cũng nếm trải cảm giác ấy, từ sự chờ đợi, bất ngờ, đến niềm vui khi cầm trên tay một vật do chính mình tạo ra nhưng vẫn đủ bí ẩn để gây ngạc nhiên. Qua đó, gốm và sáng tạo không còn là sự kiểm soát tuyệt đối, mà là một cuộc đối thoại, nơi cái chưa hoàn hảo và những bất ngờ được đón nhận như một phần tất yếu. Ngay cả khi lần đầu chưa như ý, trải nghiệm ấy vẫn trở thành hành trang cho những lần sáng tạo tiếp theo, cùng với sự hiểu biết sâu hơn về lửa.

Khởi Thủy là Gốm! ảnh 4

Từ thực tế ấy, Nguyễn Thu Thủy kỳ vọng các workshop sẽ góp phần thay đổi cách công chúng tiếp cận gốm nghệ thuật đương đại. Gốm Việt Nam lâu nay gắn chặt với làng nghề và công năng sử dụng như chén bát, bình hoa, đồ thờ cúng. Đó là một di sản quý giá, nhưng cũng khiến nhiều người chỉ nhìn gốm như vật dụng.

Khi tự tay nặn đất, chọn men và chờ đợi kết quả từ lò nung, người tham gia dần nhận ra gốm có thể mang theo câu chuyện cá nhân và cảm xúc riêng, không cần hoàn hảo, không cần giống ai. Điều này thể hiện rõ ở trẻ em, những người chưa bị đóng khung bởi chuẩn mực đúng sai hay đẹp xấu, sẵn sàng thử, sẵn sàng sai và đôi khi tạo ra những hình thức khiến chính nghệ sĩ phải nhìn lại cách mình làm việc. Theo Nguyễn Thu Thủy, nếu tư duy ấy được nuôi dưỡng từ sớm, thế hệ sau sẽ tiếp cận gốm và nghệ thuật nói chung với tinh thần cởi mở và tự do hơn.

TIN LIÊN QUAN
Khởi Thủy là Gốm!
Khởi Thủy là Gốm!
(Ngày Nay) - Bước vào gốm như trở về một nguồn khơi của sáng tạo, “Khởi Thủy” không chỉ là cuộc ra mắt gốm cá nhân đầu tiên của nghệ sĩ Nguyễn Thu Thủy mà còn mở ra một hành trình chậm rãi, nơi truyền thống, ký ức và bản thể gặp nhau trong sự giao hòa của đất, nước, lửa.
Du lịch – nền kinh tế không khói được coi là thế mạnh chủ lực đưa Vân Đồn thành trung tâm kinh tế biển hiện đại mang tầm khu vực. Ảnh: bvhttdl.gov.vn
Nhà đầu tư đón cơ hội vàng ở Đặc khu kinh tế thế hệ mới Vân Đồn
(Ngày Nay) - Năm 2026 là năm bản lề để Vân Đồn tạo ra những chuyển động rõ nét hơn trong tiến trình hướng tới mô hình Đặc khu kinh tế thế hệ mới với cơ chế, chính sách đặc thù, giải quyết các điểm nghẽn, thách thức, đảm bảo cạnh tranh khu vực và quốc tế; đồng thời, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để thu hút đầu tư, phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn.
Quân Đại Việt giáp chiến quân Thanh bên bờ sông Hồng, hàng đầu là ống phóng hỏa hổ bằng tre phun lửa Phốt pho xa 10m lập tức biến giặc thành bó đuốc sống, hàng sau là pháo thăng thiên Phốt pho phóng loạt biến toàn bộ đại quân của giặc thành biển lửa.
Đại thắng Kỷ Dậu 1789 dưới góc nhìn khoa học quân sự
(Ngày Nay) -  Sau hơn 10 năm nghiên cứu độc lập, đối chiếu tư liệu lịch sử, khảo sát thực địa và mô phỏng kỹ thuật , chế tạo thử nghiệm, Kỹ sư Vũ Đình Thanh – khẳng định phong trào Tây Sơn đã làm chủ công nghệ tách và sử dụng Phốt pho trắng trong chiến tranh. Từ hang dơi ở An Khê, chiến trường Rạch Gầm – Xoài Mút đến đỉnh cao tại Thăng Long mùa Xuân 1789, kỹ sư Thanh cho rằng yếu tố hóa học đã góp phần quyết định vào tốc độ và mức độ hủy diệt của chiến thắng.