Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam

0:00 / 0:00
0:00
(Ngày Nay) -Nhằm góp phần triển khai các mục tiêu trong Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam”.
Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam”
Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam”

Phát biểu khai mạc, TS. Hà Khắc Minh, Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp, cho biết chuỗi cung ứng toàn cầu đang tiếp tục điều chỉnh mạnh dưới tác động của biến động địa chính trị, chính sách thương mại, công nghệ, xu hướng xanh hóa và các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Đối với Việt Nam, quá trình này tạo cơ hội thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới công nghệ, cải thiện quản trị và đáp ứng các tiêu chuẩn mới.

Theo TS. Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Việt Nam tiếp tục đạt kết quả tích cực trong thu hút FDI, với các dòng vốn lớn đến từ Singapore, Trung Quốc và Hàn Quốc.

Năm 2025, Singapore dẫn đầu với 6,98 tỷ USD, tiếp đến là Trung Quốc 5,19 tỷ USD và Hàn Quốc 4,20 tỷ USD. Trong 8 tháng đầu năm 2026, các đối tác đầu tư chủ yếu của Việt Nam gồm Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Malaysia, Trung Quốc và Nhật Bản.

Dòng vốn FDI, đặc biệt từ khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, cải thiện liên kết kinh tế và thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA).

Theo ông Dương, doanh nghiệp FDI có thể góp phần hình thành hệ sinh thái sản xuất dọc các hành lang, vành đai kinh tế, đồng thời thúc đẩy phát triển các trung tâm logistics quốc tế. Việt Nam cũng có cơ hội đẩy mạnh kết nối số với các nền kinh tế trong khu vực, phát triển thương mại không giấy tờ và các nền tảng xử lý tranh chấp thương mại trực tuyến.

Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam ảnh 1

TS. Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược

Khoảng trống liên kết với doanh nghiệp trong nước

Theo bà Lê Thị Duyên Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, Việt Nam hiện có hơn 30.000 doanh nghiệp FDI, chiếm chưa đến 3% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động nhưng đóng góp hơn 30% tổng thu ngân sách từ khu vực kinh tế.

Trong khi đó, các mặt hàng xuất khẩu có tỷ trọng cao vẫn chủ yếu do doanh nghiệp FDI đảm nhiệm. Doanh nghiệp Việt Nam tập trung nhiều ở gia công, nông sản, thủy hải sản, những lĩnh vực chưa tạo ra giá trị gia tăng cao.

Doanh nghiệp trong nước cũng chưa tham gia đủ sâu vào chuỗi sản xuất của khu vực FDI để nâng cao năng lực và tiếp nhận công nghệ tiên tiến.

Khoảng trống liên kết này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung cấp cho khu vực FDI, nâng tỷ lệ nội địa hóa và tham gia những công đoạn có giá trị gia tăng cao.

Vì vậy, hiệu quả thu hút đầu tư cần được nhìn nhận không chỉ qua quy mô dòng vốn, mà còn qua mức độ lan tỏa và khả năng hình thành các chuỗi liên kết sản xuất trong nước.

Từ góc độ này, TS. Nguyễn Anh Dương cho rằng Việt Nam cần chuyển từ tư duy thu hút FDI theo số lượng sang lựa chọn có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và có khả năng kéo doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi.

Cùng với đó, cần phát triển công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp tư nhân, xây dựng những tiêu chuẩn phù hợp với năng lực của doanh nghiệp trong nước để tăng khả năng kết nối với doanh nghiệp FDI.

Thách thức từ xuất xứ và chính sách thương mại

Bên cạnh hạn chế về liên kết, môi trường thương mại quốc tế cũng đặt ra những yêu cầu mới. Ông Nguyễn Anh Dương lưu ý Việt Nam đang đối mặt với thách thức từ chính sách thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ từ năm 2025 và các tiêu chí kỹ thuật liên quan đến đầu vào “từ một nền kinh tế thứ ba”.

Những yêu cầu này khiến vấn đề xuất xứ hàng hóa và nguồn đầu vào trở nên quan trọng hơn. Doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng phải kiểm soát tốt hơn nguồn nguyên liệu, quá trình sản xuất và các điều kiện kỹ thuật nếu muốn duy trì khả năng tiếp cận thị trường.

Theo ông Dương, nếu doanh nghiệp Việt Nam có thể gia tăng hàm lượng giá trị gia tăng nội địa trong sản phẩm xuất khẩu, thách thức này đồng thời có thể trở thành cơ hội để Việt Nam giữ lại nhiều giá trị hơn và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Việt Nam cũng phải tính đến nguy cơ cạnh tranh “đua xuống đáy” trong ASEAN. Khi nhiều quốc gia cùng tìm cách thu hút dòng vốn dịch chuyển, cạnh tranh chủ yếu dựa vào ưu đãi có thể không tạo ra nền tảng lâu dài để nâng cao năng lực sản xuất trong nước.

Do đó, bên cạnh lựa chọn dự án, Việt Nam cần phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực logistics, hạ tầng số và năng lượng; tăng cường quản lý rủi ro về xuất xứ hàng hóa và phòng vệ thương mại.

Đây là những điều kiện cần thiết để hình thành hệ sinh thái sản xuất có khả năng chống chịu, đa dạng hóa thị trường và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế.

Từ “giảm thuế” sang nâng năng lực doanh nghiệp

Từ góc độ chính sách thuế, bà Lê Thị Duyên Hải cho rằng Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ “thu hút đầu tư vào Việt Nam” sang “nâng cấp năng lực của doanh nghiệp Việt Nam để trở thành một mắt xích có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu”.

Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam ảnh 2

Bà Lê Thị Duyên Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Kê khai và Kế toán thuế - Tổng cục Thuế

Trong nhiều năm, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp được sử dụng như những công cụ quan trọng để thu hút FDI, tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng và thúc đẩy xuất khẩu.

Tuy nhiên, theo bà Hải, trong bối cảnh áp dụng thuế bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu, việc tiếp tục “hạ đáy” thuế suất ưu đãi không còn tạo sức hút lớn đối với doanh nghiệp FDI như trước.

Theo bà Hải, Luật Thuế TNDN số 67 và Nghị định 30 đã đánh dấu bước chuyển đáng chú ý khi doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện được tính gấp hai lần chi phí thực tế đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ (R&D). Chính sách này góp phần hỗ trợ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và ứng dụng AI vào sản xuất, kinh doanh.

Từ năm 2025, nhiều ngành nghề cũng được đưa vào diện áp dụng mức thuế suất ưu đãi thấp như 10% trong thời hạn 10 năm hoặc 15 năm, cùng chính sách miễn, giảm thuế đối với năng lượng xanh, chuyển đổi số. Tuy nhiên, bà Hải cho rằng một số cơ chế ưu đãi hiện hành chưa thực sự phù hợp với yêu cầu nâng cấp doanh nghiệp.

Ưu đãi theo địa bàn khó hấp dẫn những ngành tạo giá trị gia tăng cao, bởi doanh nghiệp không dễ đầu tư tại vùng sâu, vùng xa chỉ để hưởng thuế suất ưu đãi. Trong khi đó, ưu đãi dựa trên quy mô vốn khiến doanh nghiệp Việt Nam khó đáp ứng, còn các tập đoàn toàn cầu có nhiều khả năng đạt điều kiện hơn. Chính sách hiện chủ yếu gắn với ngành nghề, địa bàn nhưng chưa có đầy đủ tiêu chí đầu ra để khuyến khích chuyển đổi xanh, chuyển đổi số hay tạo giá trị gia tăng cao.

Hướng tới chuỗi cung ứng xanh

Một hướng phát triển khác được đề cập tại diễn đàn là xây dựng hệ sinh thái sản xuất xanh và có khả năng chống chịu.

Ông Nguyễn Anh Dương dẫn trường hợp một doanh nghiệp lớn của châu Âu đang muốn đầu tư vào Việt Nam để sản xuất vải và hàng may mặc từ vải tái chế. Theo ông, đây là tư duy mới về chuỗi cung ứng, khi những sản phẩm đã qua sử dụng như vải hay pin ô tô điện được tái chế để trở thành đầu vào cho một quá trình sản xuất mới.

Để thu hút những dự án như vậy, Việt Nam cần các nhà đầu tư nước ngoài có năng lực về công nghệ và tài chính. Đồng thời, chính sách cũng cần có cách tiếp cận mới, trong đó xem xét việc chấp nhận nhập khẩu hàng hóa đã qua sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình tái chế dựa trên công nghệ cao.

Nhìn rộng hơn, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng đang đặt ra yêu cầu xây dựng năng lực sản xuất không chỉ dựa trên vốn mà còn trên công nghệ, nhân lực, hạ tầng và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh.

Bà Lê Thị Duyên Hải khái quát chuỗi kết quả cần hướng tới là “Công nghệ - R&D - Nhân lực - Chuỗi cung ứng - Thị trường toàn cầu”. Trong đó, công nghệ, nghiên cứu và phát triển cùng chất lượng nhân lực tạo nền tảng để doanh nghiệp cải thiện năng lực sản xuất, từ đó tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và tiếp cận thị trường quốc tế.

Các chuyên gia cho rằng chính sách cần tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận đơn hàng, mở rộng thị trường và từng bước đảm nhận những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.

Sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở ra cơ hội để Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư và mở rộng vị thế trong mạng lưới sản xuất quốc tế. Tuy nhiên, để cơ hội này tạo ra giá trị lâu dài, trọng tâm không chỉ là đưa thêm vốn FDI vào Việt Nam mà còn phải lựa chọn dòng vốn phù hợp, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực và trở thành những mắt xích có giá trị trong chuỗi cung ứng.

Ảnh minh họa
Bản quyền xuất bản giữa vòng xoáy sao chép và AI
(Ngày Nay) - Một cuốn sách có thể mất hàng tháng, thậm chí hàng năm để viết, biên tập và xuất bản, nhưng chỉ cần vài cú nhấp chuột, tác phẩm có thể bị sao chép, phát tán và bán trái phép trên không gian mạng.
Dấu hiệu cảnh báo nguy cơ sa sút trí tuệ
Dấu hiệu cảnh báo nguy cơ sa sút trí tuệ
(Ngày Nay) - Nghiên cứu do các nhà khoa học tại Đại học Curtin (Australia) phối hợp với các đối tác quốc tế thực hiện và công bố mới đây cho thấy tình trạng suy giảm khối lượng và sức mạnh cơ bắp theo tuổi tác có thể là dấu hiệu cảnh báo về nguy cơ sa sút trí tuệ.
Châu Phi trên bản đồ thế giới truyền thống sử dụng phép chiếu Mercator (bên trái) và trên bản đồ Equal Earth năm 2018 (bên phải). Ảnh: equal-earth.com
Vì sao châu Phi "phình to hơn" trên bản đồ thế giới mới?
(Ngày Nay) - Không phải châu Phi vừa “phình to”, mà là cách thế giới vẽ Trái đất đang được nhìn lại. Một phép chiếu bản đồ mới giúp lục địa này hiện lên gần hơn với kích thước thực, khác xa hình ảnh quen thuộc trên bản đồ Mercator.