(Ngày Nay) - Tại "Diễn đàn Kinh doanh 2026: Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên mới”, diễn ra chiều 14/8, các chuyên gia, nhà quản lý và cộng đồng doanh nghiệp đã tập trung phân tích những điểm nghẽn đang cản trở kinh tế số phát triển, đồng thời đề xuất giải pháp tháo gỡ về thể chế, nguồn lực, hạ tầng, dữ liệu và nhân lực.
Diễn đàn Kinh doanh 2026: Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên mới
Kinh tế số đang mở ra một không gian phát triển mới cho Việt Nam trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Không chỉ tạo thêm những ngành nghề, phương thức kinh doanh mới, công nghệ số còn ngày càng thâm nhập sâu vào các lĩnh vực truyền thống, từ sản xuất, thương mại, tài chính đến logistics, dịch vụ.
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Kinh tế số Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong nhiều năm và vươn lên vị trí thứ hai Đông Nam Á về tốc độ phát triển.
Ở một cách đo khác, Báo cáo e-Conomy SEA 2025 của Google, Temasek và Bain & Company ước tính quy mô kinh tế số Việt Nam đạt khoảng 39 tỷ USD trong năm 2025, tiếp tục nằm trong nhóm các nền kinh tế số tăng trưởng nhanh nhất khu vực. Thương mại điện tử là một trong những động lực quan trọng, với doanh thu tiêu dùng đạt 13,8 tỷ USD từ 24,3 triệu người mua sắm trực tuyến.
Những con số trên cho thấy nền kinh tế số Việt Nam đã vượt qua giai đoạn hình thành ban đầu và đang trở thành một cấu phần ngày càng quan trọng của nền kinh tế. Song, tốc độ tăng trưởng cao không đồng nghĩa với việc mọi tiềm năng đã được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh.
Theo Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Bùi Trung Nghĩa, thách thức hiện nay không còn chủ yếu nằm ở tốc độ tăng trưởng mà ở khả năng chuyển hóa tăng trưởng kinh tế số thành giá trị gia tăng, năng suất và năng lực cạnh tranh thực chất cho doanh nghiệp.
Một trong những vấn đề được các chuyên gia chỉ ra là khoảng cách giữa tiềm năng công nghệ và khả năng triển khai trong thực tế.
Theo ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, kinh tế số theo nghĩa rộng không chỉ là sự xuất hiện của những doanh nghiệp công nghệ hay nền tảng số mới, mà còn là quá trình số hóa và ứng dụng các nền tảng, công cụ công nghệ vào những ngành nghề truyền thống.
Điều này đồng nghĩa với việc dư địa phát triển của kinh tế số Việt Nam còn rất lớn. Với khoảng 85,6 triệu người sử dụng internet, cùng sự phổ biến nhanh chóng của thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, các nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI), không gian cho doanh nghiệp mở rộng thị trường và tối ưu hoạt động ngày càng rộng. Tuy nhiên, quá trình này đang bị cản trở bởi nhiều điểm nghẽn có tính hệ thống.
Theo các chuyên gia, một trong những vấn đề là sự thiếu đồng bộ giữa hạ tầng “cứng”, như hạ tầng công nghệ thông tin - viễn thông, logistics, với hạ tầng “mềm” gồm thể chế, dữ liệu, kỹ năng số và năng lực tổ chức thực thi. Bên cạnh đó, khung pháp lý và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với những lĩnh vực mới như tài sản số, dữ liệu mở và AI vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện.
Khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn cũng là một vấn đề đáng lưu ý. Một chính sách dù được thiết kế đúng nhưng nếu thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể, thiếu cơ chế triển khai thuận lợi hoặc cơ quan thực thi còn tâm lý e ngại rủi ro thì nguồn lực vẫn khó được chuyển hóa thành kết quả.
Ông Nguyễn Hoa Cương - Phó Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) trao đổi về triển vọng và yêu cầu đổi mới tư duy phát triển kinh tế số. (Ảnh: Quốc Tuấn)
Ông Nguyễn Hoa Cương cho rằng các chính sách tạo động lực tăng trưởng mới cần được cụ thể hóa thành những quy định pháp luật và hướng dẫn thi hành rõ ràng, dễ thực hiện; đồng thời cơ quan thực thi cần có tâm thế đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp.
Ở góc độ xây dựng thể chế, Đại biểu Quốc hội Phan Đức Hiếu cho rằng pháp luật không nên chỉ can thiệp bởi một công nghệ được xem là “mới”, mà cần tập trung vào những rủi ro thực tế mà hệ thống pháp luật hiện hành chưa kiểm soát được. Cách tiếp cận này nhằm tạo không gian cho đổi mới sáng tạo thay vì biến quy định pháp luật thành rào cản đối với công nghệ mới.
Nếu thể chế là “khung” cho kinh tế số phát triển thì nguồn lực tài chính lại là một trong những điều kiện quyết định khả năng doanh nghiệp biến cơ hội thành năng lực thực tế.
Đây là điểm nghẽn đặc biệt rõ đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa - nhóm chiếm khoảng 98% số doanh nghiệp của Việt Nam.
Theo Phó Chủ tịch VCCI Bùi Trung Nghĩa, dù nhận thức về chuyển đổi số đã được cải thiện đáng kể, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn khó tiếp cận tín dụng để đầu tư cho công nghệ. Hạn chế về tài chính khiến doanh nghiệp khó đầu tư đồng bộ vào máy móc, phần mềm quản trị, dữ liệu số, bảo mật, tự động hóa, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc hay ứng dụng AI.
Điều đáng nói là chuyển đổi số ngày nay không còn dừng ở việc mua một phần mềm hay đưa một quy trình lên môi trường trực tuyến. Để nâng cao năng suất, doanh nghiệp cần một hệ thống tương đối đồng bộ, từ dữ liệu, hạ tầng, phần mềm quản trị, tự động hóa đến an ninh mạng và nhân lực.
Nếu thiếu vốn hoặc chỉ có khả năng đầu tư từng phần, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng “số hóa nửa chừng”, vừa phát sinh thêm chi phí nhưng chưa tạo được hiệu quả đủ lớn để nâng năng suất.
Vì vậy, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số cần được nhìn nhận như một chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thay vì chỉ là một chương trình hỗ trợ công nghệ.
Ông Bùi Quang Cường, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, cho rằng cần thu hẹp khoảng cách số giữa doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số và khai thác AI để nâng năng suất, tối ưu chi phí và cải thiện sức cạnh tranh.
Việt Nam đã xác lập những mục tiêu khá rõ cho giai đoạn tới. Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP. Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030 cũng đặt mục tiêu tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%, hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, hình thành ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ số có năng lực ngang tầm các nước tiên tiến và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu.
Từ mức 14,02% năm 2025 lên khoảng 30% vào năm 2030 là một bước tiến lớn. Khoảng cách này không thể được lấp đầy chỉ bằng việc gia tăng số lượng người dùng internet, mở rộng thương mại điện tử hay tăng số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ.
Điều quan trọng hơn là phải nâng chất lượng của quá trình số hóa, đưa công nghệ vào sâu hơn trong hoạt động sản xuất, quản trị và cung ứng dịch vụ; đồng thời tạo ra những doanh nghiệp công nghệ có khả năng làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo ông Bùi Trung Nghĩa, doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam cần trở thành lực lượng nòng cốt; các doanh nghiệp công nghệ lớn và doanh nghiệp nhà nước cần phát huy vai trò dẫn dắt trong đổi mới sáng tạo và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Cùng với đó, cần thu hút nguồn lực tư nhân vào các dự án hạ tầng số và quản trị số để mở rộng không gian phát triển.
Ở phía Nhà nước, yêu cầu không chỉ là ban hành thêm chính sách mà quan trọng hơn là thiết kế một môi trường thể chế đủ linh hoạt để công nghệ mới có thể được thử nghiệm, doanh nghiệp có thể đổi mới và nguồn lực xã hội được huy động.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh công nghệ đang thay đổi nhanh hơn chu kỳ xây dựng chính sách. Những lĩnh vực như AI, dữ liệu, tài sản số hay các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng có thể phát triển rất nhanh, trong khi nếu pháp luật phản ứng quá chậm hoặc quản lý theo cách “đóng khung” công nghệ, nguy cơ bỏ lỡ cơ hội sẽ gia tăng.
Thực tế cho thấy Việt Nam đã có nhiều nền tảng thuận lợi. Hệ thống hạ tầng số tiếp tục được mở rộng, thị trường người dùng lớn, thương mại điện tử phát triển nhanh, thanh toán số phổ biến và cộng đồng doanh nghiệp ngày càng nhận thức rõ hơn về vai trò của công nghệ. Một số chỉ số quốc tế cũng cho thấy năng lực dịch vụ tài chính và dịch vụ tiện ích của Việt Nam có vị trí tương đối cao trong khu vực và trên thế giới.
Nhưng lợi thế chỉ trở thành động lực tăng trưởng khi được kết nối thành một hệ sinh thái vận hành hiệu quả.
Đó là nơi thể chế phải tạo không gian cho đổi mới; hạ tầng phải đủ năng lực đáp ứng; dữ liệu phải được khai thác hiệu quả; tài chính phải đến được với doanh nghiệp; nhân lực phải có khả năng làm chủ công nghệ; còn doanh nghiệp phải thực sự trở thành trung tâm của quá trình chuyển đổi.
Từ góc nhìn này, tháo gỡ điểm nghẽn cho kinh tế số không đơn thuần là tháo một vài “nút thắt” về thủ tục hay công nghệ. Đây là quá trình thay đổi cách thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực cho mô hình tăng trưởng mới.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi những động lực mới dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu. Kinh tế số có thể đảm nhiệm vai trò đó, nhưng chỉ khi những con số về quy mô được chuyển hóa thành năng suất cao hơn, sản phẩm có giá trị gia tăng lớn hơn và năng lực cạnh tranh mạnh hơn.
Nói cách khác, bài toán của kinh tế số Việt Nam trong giai đoạn mới không còn là “có phát triển hay không”, mà là phát triển như thế nào để mỗi đồng vốn, mỗi dữ liệu và mỗi công nghệ được chuyển hóa thành giá trị thực cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Đó cũng là điều kiện để kinh tế số từ một khu vực tăng trưởng nhanh thực sự trở thành một trong những động lực cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới, góp phần đưa Việt Nam tiến tới mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong những năm tới.
(Ngày Nay) - Đặc phái viên Liên hợp quốc kêu gọi các bên lập tức giảm căng thẳng, hướng tới một lệnh ngừng bắn lâu dài, đồng thời chấm dứt các vụ tấn công tàu thuyền và xuyên biên giới.
(Ngày Nay) - Khoảng 1.800 người đã phải rời nhà trong đêm 13/8 khi cháy rừng lan nhanh tại thị trấn Huertgenwald, miền Tây nước Đức, gần biên giới với Bỉ và Hà Lan.
(Ngày Nay) - Chính phủ thông qua 5 chính sách của Luật về văn bản quy phạm pháp luật nêu tại Tờ trình số 130/TTr-BTP của Bộ Tư pháp, đã được tiếp thu, giải trình ý kiến Thành viên Chính phủ.
(Ngày Nay) - Dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) đề xuất tinh gọn thủ tục, mở rộng cơ chế khoan hồng, hạn chế tạm giam và đẩy mạnh tố tụng điện tử, đồng thời tăng cường bảo đảm quyền con người.
(Ngày Nay) - Chính phủ quyết nghị thông qua Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) theo đề nghị của Bộ Tư pháp tại Báo cáo số 685/BC-BTP ngày 12/8/2026.
(Ngày Nay) - Ủy ban Kiểm tra TW nhận thấy ông Trần Quý Kiên đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.
(Ngày Nay) - Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết ngày đầu tiên của đợt thi lại Kỳ thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026 tại điểm thi Trường Trung học phổ thông chuyên Tuyên Quang đã diễn ra an toàn, nghiêm túc.
(Ngày Nay) -Lần đầu tôi gặp nhà thơ Lê Bá Dương vào năm 2008 tại phố biển Nha Trang trong một cuộc thi hoa hậu, mà cuộc thi nhan sắc nào cũng đều có ít nhiều… tai tiếng. Khi đó tôi chỉ biết ông là một nhà báo cũng đang tác nghiệp tại sự kiện như mình. Lần gặp lại này ở một nhà sách của NXB Trẻ tại TPHCM với cuốn sách “Những bức di thư Thành cổ” do Lê Bá Dương biên soạn. Không gặp tác giả nhưng gặp tác phẩm như gặp lại cố nhân…
(Ngày Nay) - Cuốn sách truyện song ngữ về sử thi Bahnar có tựa đề “Giông làm bạn với Glaih-Phang” (tiếng Bahnar: Giông Tơ Pô̆ Păng Glaih-Phang) đã được chọn vào Bộ sưu tập Sách tiêu biểu dành cho thanh thiếu nhi bằng ngôn ngữ bản địa và có nguy cơ mai một của UNESCO toàn cầu.