![]() |
Làng gốm Lái Thiêu hình thành từ cuối thế kỷ XVIII và phát triển rực rỡ vào thế kỷ XIX. |
Gốm dần biến mất
Làng gốm Lái Thiêu hình thành từ cuối thế kỷ XVIII và phát triển rực rỡ vào thế kỷ XIX, khi những người thợ gốm gốc Quảng Đông, Triều Châu (Trung Quốc) cùng các nghệ nhân từ miền Bắc mang theo nghề vào vùng đất ven sông Sài Gòn lập nghiệp.
Nhờ nguồn đất sét dồi dào, giao thông đường thủy thuận lợi và kỹ thuật chế tác tinh xảo, Lái Thiêu nhanh chóng trở thành một trong những trung tâm sản xuất gốm lớn nhất Nam bộ. Những sản phẩm gốm theo ghe xuôi ngược khắp miền Tây rồi sang cả Lào, Campuchia, Thái Lan. Có thời điểm, nghề gốm trở thành sinh kế của hàng nghìn hộ dân, góp phần tạo nên diện mạo kinh tế đặc trưng của vùng đất này.
Những người lớn tuổi kể rằng, có một thời đi dọc những con đường ở Lái Thiêu, đâu đâu người ta cũng thấy khói lò bay lên nghi ngút. Ban ngày, xe chở gốm nối đuôi nhau ra vào tấp nập, ban đêm ánh lửa từ hàng trăm lò nung rực sáng cả một vùng. Ấy vậy mà giờ đây, khung cảnh nhộn nhịp đó đã lùi vào dĩ vãng.
Chạy dọc các con đường quanh Làng gốm Lái Thiêu bây giờ chỉ là những khung cảnh buồn hắt hiu. Cánh cửa dẫn vào một lò gốm cũ khép hờ với um tùm dây leo và bám đầy bụi bặm. Trong sân, những chiếc lu, khạp nằm chồng lên nhau, chiếc còn nguyên, chiếc sứt miệng, chiếc nứt thân, có chiếc nghiêng ngả như chỉ cần một cái chạm nhẹ cũng có thể vỡ vụn...
![]() |
Nhiều cơ sở gốm ở Lái Thiêu hiện nay đã đóng cửa. |
Bên trong, những bộ khuôn, xe đẩy, bàn làm việc và vật dụng sản xuất vẫn nằm nguyên vị trí cũ, phủ lên một lớp màu thời gian. Mái tôn hoen gỉ với nhiều chỗ thủng, nắng rọi xiên xiên thành từng vệt dưới nền nhà. Mạng nhện giăng kín các góc xưởng, vài chiếc lá khô theo gió lùa vào nằm lặng lẽ trên những chiếc khuôn. Xa xa là chiếc lò nung bằng gạch, miệng lò đen sẫm đi, củi cũ còn chất cạnh, vài chiếc xẻng, cây cào và xe kéo hàng nằm im lìm như thể đang chờ người quay lại nhóm lên.
Cơ sở này đã rất lâu rồi không có ai coi sóc, ngọn lửa lò nung đã tắt từ rất lâu, không còn tiếng xe nâng cót két, không còn tiếng gọi kéo hàng tới lui, cũng không còn những đêm thức trắng đợi mẻ gốm mới. Cả lò gốm chỉ còn lại sự tĩnh lặng bao trùm.
Ngọn lửa còn sót lại
Những cơn nắng kéo dài tháng Tám, làm không khí trong Lò gốm Chú Mười Lái Thiêu (P.Bình Hoà, TP.HCM) càng thêm oi bức. Đây là một trong số ít lò gốm củi còn hoạt động giữa vùng đất từng được mệnh danh là “thủ phủ gốm” này. Những chiếc chậu kiểng được xếp ngay cổng, ở giữa có thêm hàng trăm chiếc lu, khạp thành phẩm với đủ kích cỡ xếp thành từng dãy dài, cái đã phủ lớp men nâu, cái còn màu đất đỏ đang chờ đi tiếp đến công đoạn cuối cùng.
![]() |
| Hàng trăm sản phẩm gốm được xếp trước khu xưởng của một trong số ít lò gốm còn hoạt động tại Lái Thiêu. |
Để làm ra một sản phẩm gốm thủ công hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn, từ những khối đất sét thô, người thợ ép đất vào khuôn rồi dùng tay miết đều. Khi tháo khuôn, sản phẩm tiếp tục được gọt bỏ phần đất thừa, chỉnh lại miệng và thân chậu trước khi chuyển sang in hoa văn. Sau nhiều ngày phơi khô, những chiếc chậu được chấm màu rồi đưa vào lò nung rực lửa.
Ở khu tạo hình, chị Phúc, ngoài 40 tuổi, cũng là người trẻ nhất còn gắn bó với lò gốm này cẩn thận làm việc. Trước mặt chị là những bộ khuôn bằng thạch cao đã ngả màu, người phụ nữ xúc đất sét đã được nhào kỹ cho vào khuôn, dùng hai bàn tay ép chặt rồi miết, động tác dứt khoát nhưng nhẹ nhàng. Theo chị, chỉ cần mạnh tay hoặc lệch một chút là thành chậu sẽ méo hoặc xuất hiện vết nứt khi nung.
Quần áo dính đầy bụi, kẽ móng lấm màu đất, chị đưa tay lướt theo từng đường cong của khuôn, miết đến khi bề mặt thật nhẵn mới dừng lại. Chị để đất se lại vừa đủ để giữ được hình dáng rồi cẩn thận tháo khuôn, chuyển sản phẩm ra khu vực phơi. Chiếc khuôn nhanh chóng được làm sạch, tiếp tục đổ đất sét cho sản phẩm kế tiếp. Công việc cứ lặp đi lặp lại như vậy suốt cả ngày, từng chiếc chậu, chiếc ống gốm dần thành hình dưới đôi bàn tay đã quen nghề, thao tác thuần thục đến mức gần như không cần nhìn.
![]() |
Ông Khanh cẩn thận canh từng ngọn lửa. |
Trong xưởng, mỗi người đảm nhận một phần việc riêng, người lên khuôn, người in hoa văn, người chấm màu, người canh lửa... Những công đoạn thủ công nối tiếp nhau, không có dây chuyền tự động, không có máy móc hiện đại thay thế và phần khắc nghiệt nhất trong quy trình nằm ở khu vực lò nung.
Củi cháy và tro bụi làm tóc và quần áo người đứng lò phủ một lớp bụi dày. Lửa to và hơi nóng táp thẳng vào da thịt, rát bỏng. Một chiếc quạt cũ quay liên tục bên góc lò nhưng cũng chỉ làm dịu đi đôi chút. Ông Khanh, 58 tuổi, chăm chú quan sát ngọn lửa. Gần 30 năm trong nghề, công việc này gần như không thay đổi gì. Ông lấy chiếc khăn lau vội những giọt mồ hôi trên trán rồi quả quyết: "Khâu nung quan trọng nhất, cũng như nấu cơm vậy, phải tăng lửa từ từ thì đồ mới không hư".
Theo ông, mỗi mẻ nung xếp chung nhiều loại sản phẩm trong cùng một lò và phải canh xuyên suốt 24/24. Hiện nay, đơn hàng ít hơn trước nên khoảng ba tuần lò mới nung một mẻ, trong khi trước đây chỉ một đến hai tuần đã đỏ lửa rồi. Mỗi lần nhóm lò, hai ba thợ thay phiên nhau túc trực, lửa nhóm lên rồi lại hạ, phải làm như vậy trong nhiều thời gian liên tiếp và không được phép tắt cho đến khi mẻ gốm chín. Cuối cùng, thợ phải chờ đến khi lò nguội hẳn mới được lấy hàng ra.
"Giờ tụi nhỏ đâu còn ai chịu theo nghề này. Vừa nóng, vừa bụi, cực lắm!", người giữ lò cảm thán.
![]() |
| Mấy mươi năm gắn bó, ông Mười - chủ lò gốm - chứng kiến những đổi thay của một làng nghề, đã có lúc thịnh và cũng đến lúc suy. |
Ông Nguyễn Văn Mười (được gọi thân thương là chú Mười), chủ cơ sở Lò gốm Chú Mười Lái Thiêu đã ở cái tuổi thất tuần nhưng vẫn tất bật như thời trai trẻ. Ông vừa chuyển hàng vừa nghe điện thoại, khi thì quay sang kiểm tra từng sản phẩm làm ra. Ông cho biết, chậu kiểng cỡ lớn là mặt hàng bán chạy nhất của cơ sở những năm gần đây và thời điểm cuối năm là bán được hơn cả vì người ta mua chưng cây kiểng dịp Tết. Chậu cao ngang người, hoa văn nổi cầu kỳ, có giá từ 5 đến 6 triệu đồng mỗi chiếc.
“Hồi trước người ta lấy đủ loại hàng, giờ lấy ít nhưng mình vẫn phải làm, có khách đặt thì giao”, ông thủ thỉ rồi lại leo lên xe nâng, cẩn thận di chuyển từng lô củi khô vào vị trí. Ông vừa làm vừa chậm rãi kể: “Hồi đó khu này nhiều lò lắm, đúng nghĩa là làng gốm, đi đâu cũng thấy khói lò, xe chở hàng chạy suốt ngày đêm. Sau này, nung bằng lò củi khói bụi nhiều nên nhà nước quy hoạch, nhiều lò chuyển lên khu khác, có lò thì đóng cửa luôn”.
Ba mươi sáu năm gắn bó với lò gốm cũng là chừng ấy năm ông Mười chứng kiến những đổi thay của một làng nghề, đã có lúc thịnh và cũng đến lúc suy. Ngọn lửa trong các lò nung dần tắt cũng như Làng gốm Lái Thiêu đã tồn tại hơn trăm năm đang đứng trước ngưỡng cửa số phận.
Gốm Cây Mai đã từng là một sản phẩm nức tiếng, xuất phát từ vùng “xóm lò gốm” thuộc Sài Gòn – Chợ Lớn xưa, bắt đầu xuất hiện từ khoảng đầu thế kỷ 19. Dòng gốm này gồm hai loại chính là gốm không men và gốm tráng men đơn sắc với các màu đặc trưng như lam, xanh lục, vàng, nâu, đen. Bên cạnh các sản phẩm gia dụng, gốm Cây Mai còn nổi tiếng với tượng, phù điêu và linh vật trang trí đình, miếu, chùa, góp phần tạo nên dấu ấn kiến trúc tín ngưỡng đặc trưng của cộng đồng người Hoa Nam bộ.
TS. Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM, nhận định: “Khi xóm Lò Gốm Sài Gòn di chuyển đi thì gốm Cây Mai cũng biến dạng, không còn nguyên gốc. Đầu thế kỷ XX, gốm Biên Hòa xuất hiện với phong cách và kỹ thuật phương Tây, tạo nên một dòng sản phẩm mới. Gốm Cây Mai vẫn nổi tiếng là dòng gốm kiến trúc mang đậm dấu ấn người Hoa. Hiện nay có nhiều người phục dựng, nhưng mỗi thời kỳ có nhu cầu khác nhau nên sản phẩm cũng thay đổi theo”.
Bài 3: Giữ hồn giữa nhịp sống hiện đại




