Sân khấu truyền thống mai một – Bài 1: Một thời vang bóng

0:00 / 0:00
0:00
(Ngày Nay) - Hài kịch tiếp tục mở rộng thị phần nhờ nhịp độ nhanh và đối tượng khán giả rõ ràng hơn. Cải lương lời thoại ít, diễn biến chậm đã không còn làm giới trẻ kiên nhẫn nghe hết tuồng. Sân khấu TP.HCM vẫn luôn tồn tại hai loại hình nghệ thuật nhưng với vị thế hoàn toàn khác.
Rạp Công nhân (trước đây là rạp Nguyễn Văn Hảo, số 30 Trần Hưng Đạo) một thời là điểm đến của giới trẻ yêu cải lương.
Rạp Công nhân (trước đây là rạp Nguyễn Văn Hảo, số 30 Trần Hưng Đạo) một thời là điểm đến của giới trẻ yêu cải lương.

Dấu ấn một loại hình nghệ thuật

Ghi nhận của Phóng viên Ngày Nay, trên trang Fanpage của Nhà hát Trần Hữu Trang, các poster quảng cáo một số vở diễn cải lương hiện lên. Nhà hát Trần Hữu Trang đăng tin những suất cải lương cũ từ thời điểm tháng 02/2026. Chúng tôi đã gọi điện thoại vào đường dây nóng, nhân viên của nhà hát Trần Hữu Trang cho biết, trong tháng 9, có 2 suất diễn. Thông qua trang Ticketbox, một bảng quảng cáo vở diễn “Câu thơ yên ngựa” hiện lên.

Giá vé chia nhiều hạng, ghế dưới sân khấu cao hơn, ghế lầu rẻ hơn. Bấm vào chọn ghế thì sơ đồ hiện lên, ghế nào đã bán thì màu đỏ, ghế còn trống thì màu trắng. Giá vé cao nhất 1,2 triệu đồng và thấp nhất là 200 ngàn đồng. Bên trong phần đặt vé, nhiều vị trí ngồi tốt nhất không còn trống chỗ. Chỗ ngồi trên lầu giá rẻ nhất với giá 200 ngàn đồng/vé cũng chiếm gần một nửa người đặt.

Trong một Fanpage khác, sân khấu Đại Việt đăng lịch vẫn với vở diễn “Câu thơ yên ngựa” vào ngày 19/9. Gọi điện thoại vào đường dây nóng, chúng tôi được một nhân viên hướng dẫn gửi thông tin qua Zalo để lựa chọn chỗ ngồi và đặt ghế. Nhiều ô màu đen thông báo đã hết vé chiếm gần một nửa sân khấu. Những vị trí đẹp nhất gần như không còn.

Sân khấu truyền thống mai một – Bài 1: Một thời vang bóng ảnh 1

Cách thức đặt vé xem cải lương qua trang Ticketbox (Ảnh chụp màn hình).

Mua vé qua mạng giờ thành phổ biến của người dân đến với sân khấu nghệ thuật. Người già cũng nhờ con cháu đặt giúp. Cảnh tượng dân phe vé, găm vé chợ đen đến trước giờ diễn nhằm đẩy giá vé lên cao đã không còn.

Loại hình nghệ thuật cải lương có lẽ chỉ dành cho thế hệ 7x, 8x và không hấp dẫn với thế hệ GenZ. Đã lâu rồi, hiếm hoi một số vở diễn cải lương mới được trình diễn đến công chúng. Nhiều năm qua, nghệ thuật truyền thống như cải lương,… đã dần mai một. Các vở diễn thưa thớt dần trên sân khấu và đặc biệt là ở các nhà hát phía Nam. Người xem cải lương trên sân khấu mang theo thói quen được xem biểu diễn, nghe những giọng hát hơn là tò mò với vở diễn mới. Hưởng thụ nghệ thuật cải lương là để sống lại những giây phút thật chậm, lắng nghe những nhịp vọng cổ một thời vang bóng trong quá khứ.

Trước năm 1975 và cho đến những năm thập niên 90, cải lương từng làm mưa làm gió trong loại hình giải trí của người dân. Từ Sài Gòn về đến các tỉnh miền Tây, đây là loại hình độc tôn trong giới trẻ cho tới người dân luống tuổi. Tại Sài Gòn, có thể kể đến các rạp như Quốc Thanh, Đại Đồng, Hưng Đạo luôn chật kín người. Thời điểm đó, vé được bán thông qua những người bán dạo hoặc mua trực tiếp tại rạp.

Nhiều vở diễn nhắc đến tên là biết ngay đến cốt chuyện nhưng người dân vẫn tìm đến để thưởng thức. Vở diễn kéo dài từ sớm đến quá khuya. Các nghệ sĩ hát rất nhiều câu vọng cổ nhưng lời thoại thường rất ít. Có những vở tuồng, người dân còn thuộc cả lời ca, biết được câu vọng cổ ngân đến từng đoạn. Sân khấu cứ như thế mà là nơi tụ họp của cả gia đình và cả xóm.

Nghệ sỉ nổi tiếng được xướng tên, bước lên sân khấu được chào đón như người thân quen từ lâu gặp lại. Soạn giả cải lương luôn viết những vở mới để đáp ứng nhu cầu của người xem. Tiếng đàn kìm, tiếng trống, tiếng hát vọng ra tận nơi xa xăm. Cải lương ngoài loại hình giải trí, còn là một phần không thiếu trong nhịp sống của người dân.

Những vai diễn, các rạp trình diễn các vở diễn được người dân nhắc đến như vấn đề thời sự. Mỗi khi, người nghệ sĩ vô tình xuất hiện trên phố là có người nhận ra và ùa đến để xin chữ ký. Trẻ con lớn lên trong hồi ức của những câu vọng cổ, người già nghe cải lương để nhớ lại thời tuổi trẻ. Cải lương cứ như món ăn không thể thiếu và vở diễn được trình diễn không cần phải quảng cáo. Tất cả đều như một thói quen không thể thiếu của nhiều thế hệ.

Đến đầu những năm 2000, số lượng rạp bắt đầu có xu hướng giảm rõ rệt. Cải lương có dấu hiệu thoái trào để nhường bước cho làn sóng nhạc trẻ thịnh hành đang nổi lên. Nhiều đoàn cải lương phải dạt về miền Tây để lưu diễn. Nhiều đoàn cải lương không thể cầm cự đã phải giải thể hoặc sáp nhập. Nghệ sĩ cải lương thưa thớt dần và chuyển nghề để mưu sinh. Một số sân khấu vẫn được giữ lại như sự bảo tồn văn hóa cần phải có.

Sân khấu truyền thống mai một – Bài 1: Một thời vang bóng ảnh 2

Đặt vé qua Zalo để xem cải lương của sân khấu cải lương Mới Đại Việt.

Khi kịch nói lấn sân

Hai dòng nghệ thuật này đang chạy song song trên sân khấu Sài Gòn. Cải lương giữ chỗ cho người lớn tuổi và những ai còn nhớ thời rạp hát còn đông. Hài kịch chiếm phần đông khán giả mới. Cải lương vẫn còn lượng khán giả nhất định nhưng vị trí đã thu hẹp. Hài kịch mở rộng thị phần nhưng cũng chỉ chiếm được tỷ lệ nhất định. Sân khấu thành phố không còn một dòng duy nhất chi phối như trước.

Theo nhiều tài liệu ghi lại, kịch nói bắt đầu chính thức du nhập vào Việt Nam vào ngày 22/10/1921. Vở “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long công diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Đây là vở kịch nói thuần Việt đầu tiên do người Việt viết và dàn dựng. Từ trước năm 1920, người Việt đã dịch và diễn một số vở du nhập từ Pháp.

Ban đầu, kịch nói chỉ phổ biến trong giới trí thức thành thị ở Hà Nội và Hải Phòng. Sau đó, loại hình nghệ thuật này lan dần vào Sài Gòn và các đô thị lớn. Người xem thời ấy chủ yếu là giới công chức, học sinh, sinh viên tiếp xúc với văn hóa Tây phương. Họ đến rạp không chỉ để giải trí mà còn để tiếp cận một cách kể chuyện mới.

Sau năm 1945, kịch nói gắn chặt với kháng chiến. Đoàn Văn công Trung ương thành lập năm 1952 tại chiến khu Việt Bắc, sau này trở thành Nhà hát Kịch Việt Nam. Từ thập niên 1950 đến 1970, các đoàn kịch chuyên nghiệp lần lượt xuất hiện ở cả hai miền. Giai đoạn khoảng 1971 đến 1990 được xem là thời kỳ đỉnh cao với nhiều vở đề tài xã hội và hiện thực tâm lý. Các đạo diễn được đào tạo bài bản, nhiều vở gây tiếng vang lớn trong công chúng.

Sân khấu truyền thống mai một – Bài 1: Một thời vang bóng ảnh 3

Rạp Quốc Thanh (số 271 Nguyễn Trãi) ngày xưa, nay chỉ còn là ký ức.

Khán giả lúc đó đến rạp không chỉ để xem mà còn để nghe những vấn đề đang diễn ra ngoài đời được đưa lên sân khấu. Kịch nói trở thành nơi phản ánh và tranh luận những câu chuyện đương thời. Nó khác với cải lương ở chỗ ít hát, nhiều thoại, nhấn mạnh tâm lý nhân vật hơn là cảm xúc được ngân nga qua câu ca.

Cải lương ra đời ở miền Nam khoảng những năm 1917–1920. Nguồn gốc chính từ đờn ca tài tử. Gánh hát thầy Năm Tú ở Mỹ Tho công diễn vở "Kim Vân Kiều" vào năm 1918. Đến năm 1920, gánh Tân Thinh ở Sài Gòn chính thức dùng tên “cải lương”. Cải lương kết hợp yếu tố hát bội Nam Bộ với kỹ thuật sân khấu phương Tây. Vở diễn gắn với đời sống hơn tuồng và chèo nên nhanh chóng được khán giả miền Nam đón nhận rộng rãi. Từ những gánh hát nhỏ ở các tỉnh, cải lương trở thành loại hình sân khấu chiếm vị trí độc tôn ở Sài Gòn và các đô thị miền Nam. Rạp hát đã trở thành điểm hẹn của người dân thành phố thời bấy giờ.

Từ thập niên 1980, kịch nói và hài kịch dần chiếm ưu thế hơn cải lương trong đời sống sân khấu thành phố. Cải lương vẫn được duy trì nhưng lượng khán giả giảm rõ rệt so với thời hoàng kim trước 1975. Những suất diễn chủ yếu dựa vào khán giả lớn tuổi và những người còn gắn bó với loại hình nghệ thuật truyền thống.

Kỳ tới: Nhường bước cho loại hình hiện đại

TIN LIÊN QUAN
Hà Nội là địa phương đầu tiên trên cả nước triển khai thí điểm Kiosk Trạm Cảnh sát thông minh.
Ra mắt mô hình Kiosk “Trạm Cảnh sát thông minh” tại Hà Nội
(Ngày Nay) - Hà Nội là địa phương đầu tiên trên cả nước triển khai thí điểm Kiosk Trạm Cảnh sát thông minh. Thời gian tới, mô hình sẽ tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện và tích hợp thêm các dịch vụ, tiện ích gắn với dữ liệu dân cư, căn cước, định danh và xác thực điện tử VNeID.