Tại cuộc làm việc, các doanh nghiệp Nhật Bản trao đổi về tình hình đầu tư, sản xuất, kinh doanh; đồng thời nêu những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương quan tâm giải quyết.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Nhật Bản đạt 33,7 tỷ USD, tăng hơn 16,8% so với cùng kỳ năm 2025. Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản khoảng 17,6 tỷ USD, tăng 16,6%; nhập khẩu khoảng 16,1 tỷ USD, tăng 17%.
Tính đến hết tháng 7/2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới và điều chỉnh của các nhà đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam đạt khoảng 80,3 tỷ USD, đứng thứ ba trong số 153 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam.
![]() |
Ông Ito Naoki, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam phát biểu tại buổi làm việc. |
Tháo gỡ vướng mắc, tạo môi trường đầu tư thuận lợi
Phát biểu tại cuộc làm việc, Thủ tướng Lê Minh Hưng đánh giá cao các ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản, cho rằng đây là sự thể hiện sinh động của mối quan hệ tin cậy, gắn bó và tinh thần đồng hành giữa Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương Việt Nam với cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản.
Thủ tướng cho biết Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế làm nền tảng.
Việt Nam chủ trương thu hút có chọn lọc các dự án FDI chất lượng cao, sử dụng công nghệ tiên tiến, tạo giá trị gia tăng cao, có khả năng lan tỏa và kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp trong nước. Cùng với vốn đầu tư, Việt Nam mong muốn thu hút công nghệ, tri thức, quản trị hiện đại, nghiên cứu và phát triển và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trước 9 nhóm vấn đề do phía Nhật Bản nêu liên quan đến giao thông, giáo dục, năng lượng, thuế, khoa học và công nghệ, bán lẻ..., Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương rà soát tiến độ, chủ động xử lý dứt điểm những vấn đề thuộc thẩm quyền theo lộ trình cụ thể.
Thủ tướng nhấn mạnh, vấn đề thuộc thẩm quyền của cấp nào thì cấp đó phải chủ động giải quyết đúng tiến độ; những nội dung đã có quy định phải được hướng dẫn rõ ràng; quy định không còn phù hợp với thực tiễn phải được nghiên cứu sửa đổi; vấn đề vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, chỉ đạo.
![]() |
| Quang cảnh buổi làm việc. |
Chuyển mạnh sang quan hệ “đối tác cùng phát triển và kiến tạo”
Thủ tướng đánh giá Nhật Bản có thế mạnh về công nghệ, vốn, kinh nghiệm quản trị, nguồn nhân lực chất lượng cao và văn hóa kinh doanh coi trọng chất lượng, uy tín, quan hệ hợp tác lâu dài. Đây là những yếu tố phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới.
Thủ tướng mong muốn cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục tin tưởng, lựa chọn Việt Nam và cùng Việt Nam phát triển lâu dài, bền vững, thịnh vượng; mở rộng đầu tư, phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp Việt Nam để khai thác hiệu quả tiềm năng hợp tác giữa hai nền kinh tế.
Thời gian tới, hai bên sẽ tập trung thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực như hạ tầng chiến lược, đường sắt đô thị, đường sắt tốc độ cao, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi số, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp bán dẫn và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp Nhật Bản tăng cường liên kết, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực quản trị, công nghệ và tiêu chuẩn sản xuất, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn Nhật Bản.
Thủ tướng đề nghị chuyển mạnh quan hệ đầu tư Việt Nam - Nhật Bản từ quan hệ giữa “nhà đầu tư và địa điểm đầu tư” sang quan hệ “đối tác cùng phát triển và kiến tạo”; cùng nghiên cứu, cùng đổi mới sáng tạo, cùng sản xuất và cùng tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu.
“Chúng tôi cam kết sẽ đi đến cùng trong giải quyết các kiến nghị xác đáng; đồng thời có cơ chế trao đổi để giúp các bên hiểu rõ, thực hiện đồng bộ, thống nhất các quy định”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Thủ tướng khẳng định Chính phủ Việt Nam cam kết tiếp tục lắng nghe, đồng hành và hỗ trợ doanh nghiệp; xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định, minh bạch, bình đẳng, an toàn, có khả năng dự báo cao; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện thể chế, phát triển kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực.

