Ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam, đã chia sẻ về vai trò ngày càng lớn của Việt Nam trong UNESCO, công tác chuẩn bị cho giai đoạn hợp tác tiếp theo, cũng như cách thức văn hóa, tri thức và đổi mới sáng tạo có thể thúc đẩy các mục tiêu phát triển dài hạn.
Trong năm thập kỷ qua, Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội sâu sắc. Từ một quốc gia có thu nhập thấp, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp và đang tiến vững chắc tới nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao, đồng thời đạt được những tiến bộ đáng kể trong công tác giảm nghèo, giáo dục, y tế và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản.
Trong tiến trình ấy, Việt Nam ngày càng chủ động kết nối các ưu tiên trong nước với chương trình nghị sự toàn cầu. Sự tham gia tại những cơ chế điều hành quan trọng của UNESCO, cùng việc được tái bầu làm Phó Chủ tịch Kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng UNESCO, được ông Baker nhìn nhận là biểu hiện của sự tín nhiệm từ các quốc gia thành viên.
“UNESCO nhìn nhận Việt Nam là một đối tác mang tính xây dựng và đáng tin cậy, thúc đẩy hợp tác quốc tế và đóng góp vào các mục tiêu chung toàn cầu”, ông khẳng định.
Hợp tác hướng tới những thay đổi lâu dài
Theo ông Baker, Văn phòng UNESCO tại Hà Nội sẽ tập trung vào các chương trình có tác động lâu dài và mang tính hệ thống, hỗ trợ Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới. Hướng hợp tác này gắn đổi mới sáng tạo và tăng trưởng với khả năng mở rộng cơ hội học tập, tham gia và thụ hưởng của người dân.
Trong giáo dục, UNESCO tiếp tục đồng hành với quá trình cải cách, từ phát triển đội ngũ giáo viên, đổi mới dạy và học đến xây dựng hệ sinh thái học tập suốt đời. Sức khỏe và hạnh phúc của học sinh, kỹ năng số, kỹ năng xanh cùng khả năng tiếp cận giáo dục của các nhóm khác nhau là những nội dung được chú trọng. Đây cũng là nền tảng để người học có thể thích ứng với những thay đổi trong đời sống và công việc.
Sự hỗ trợ của UNESCO còn được thực hiện thông qua hợp tác kỹ thuật, chia sẻ tri thức và đối thoại chính sách. Ông Baker cho biết tổ chức đã tham gia hỗ trợ những tiến trình quan trọng như Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2021–2030, Luật Nhà giáo đầu tiên của Việt Nam và đóng góp chuyên môn cho việc sửa đổi Luật Di sản văn hóa. Trong lĩnh vực công nghệ, việc áp dụng phương pháp đánh giá mức độ sẵn sàng về trí tuệ nhân tạo cũng cung cấp cơ sở tham khảo cho xây dựng pháp luật về AI.
Cùng với giáo dục, mạng lưới khu dự trữ sinh quyển và công viên địa chất toàn cầu mở ra cơ hội kết nối nghiên cứu khoa học với những nhu cầu thực tế của địa phương. Các hoạt động giám sát đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu được đặt trong mối liên hệ với sinh kế của cộng đồng sống trong và xung quanh các khu vực được UNESCO công nhận.
Khi công nghệ tác động ngày càng sâu rộng đến đời sống, UNESCO đồng thời nhấn mạnh cách tiếp cận có đạo đức và lấy con người làm trung tâm đối với AI. Việc nâng cao năng lực tiếp nhận, đánh giá thông tin, phát triển kỹ năng số và xây dựng môi trường thông tin an toàn hơn cũng nằm trong định hướng hợp tác.
“Chúng tôi tiếp tục cam kết đồng hành cùng Việt Nam trong việc xây dựng các chính sách và quan hệ đối tác đặt con người, sáng tạo, tri thức và tính bền vững ở trung tâm của phát triển”, ông Baker nói.
Để cộng đồng được hưởng lợi từ di sản
Trong lĩnh vực văn hóa, ông Baker nhấn mạnh hai nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ là quản lý bền vững các khu vực được UNESCO công nhận và bảo đảm di sản, đa dạng sinh học đóng góp vào sự phát triển của địa phương. Bảo tồn vì thế cần được thực hiện cùng với việc tạo điều kiện để người dân tham gia và cải thiện sinh kế.
Kinh nghiệm tại Tràng An được ông dẫn ra như một ví dụ về khả năng kết nối gìn giữ di sản với dịch vụ du lịch và các cơ sở kinh doanh văn hóa nhỏ. Để hỗ trợ những mô hình tương tự, UNESCO đã triển khai hoạt động nâng cao năng lực, phát triển kỹ năng số và hỗ trợ tiếp cận thị trường cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động dựa trên giá trị di sản.
Trong quá trình đó, cộng đồng dân tộc thiểu số cần được nhìn nhận là những đối tác chủ động và là đối tượng thụ hưởng của hoạt động bảo tồn, phát triển. Cơ hội tham gia của thanh niên và phụ nữ cũng được mở rộng thông qua khởi nghiệp văn hóa, hợp tác công – tư và các ngành công nghiệp sáng tạo.
Tuy nhiên, khai thác tiềm năng kinh tế từ di sản đòi hỏi năng lực quản lý tương ứng. Theo ông Baker, UNESCO sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan trung ương và địa phương để nâng cao năng lực chuyên môn, hoàn thiện cơ chế quản lý và áp dụng chuẩn mực quốc tế. Đánh giá tác động di sản, tăng cường phối hợp giữa nhà quản lý với chuyên gia, phát triển du lịch bền vững và nâng cao khả năng ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu là những nội dung quan trọng.
Từ nền tảng này, hợp tác có thể tiếp tục mở rộng sang giáo dục di sản cho người trẻ, nghiên cứu chung và kết nối với các mạng lưới văn hóa quốc tế. Việc tham gia Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO cũng tạo thêm cơ hội trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ hoạt động sáng tạo và phát huy nguồn lực văn hóa tại địa phương.
Chủ động đóng góp vào chương trình nghị sự toàn cầu
Bên cạnh các chương trình trong nước, ông Baker đánh giá Việt Nam ngày càng có vai trò tích cực trong thúc đẩy hợp tác đa phương. Sáng kiến về Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững được ông nhìn nhận là một đóng góp đáng chú ý, thể hiện sự quan tâm đến vai trò của văn hóa trong giải quyết các thách thức chung.
Theo ông, sáng kiến có ý nghĩa trong nâng cao nhận thức, củng cố cam kết, huy động nguồn lực và thúc đẩy đầu tư cho các ngành văn hóa, sáng tạo. Việt Nam có thể tiếp tục đóng góp bằng việc tham gia xây dựng khuôn khổ triển khai, thúc đẩy đối thoại quốc tế và chia sẻ những kinh nghiệm gắn văn hóa với phát triển
Sự tham gia của Việt Nam tại Hội đồng Chấp hành UNESCO, Ủy ban Di sản thế giới và các cơ chế khác cũng cho thấy vai trò kết nối ngày càng rõ nét. Trong bối cảnh thế giới đối diện với nhiều biến động, phân cực và thay đổi công nghệ nhanh chóng, ông Baker cho rằng Việt Nam có thể góp phần củng cố hợp tác quốc tế, sự đa dạng văn hóa và định hướng phát triển lấy con người làm trung tâm.
Xuyên suốt những ưu tiên ấy là yêu cầu bảo đảm cơ hội tham gia cho các nhóm trong xã hội. Như ông Baker nhấn mạnh, bình đẳng giới, trao quyền cho thanh niên, sự tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số và khả năng thích ứng với rủi ro khí hậu là những điều kiện thiết yếu để tăng trưởng mang lại lợi ích rộng rãi và bền vững.