Theo Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng, đây trước hết là sự thay đổi về tư duy. Nếu trước đây việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thường được nhìn từ góc độ việc làm, thu nhập, giảm nghèo thì Luật lần này xác định rõ hơn đây cũng là một kênh đào tạo, tích lũy và phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
Khoản 2 Điều 1 Luật số 22/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 Luật số 69/2020/QH14 xác định chính sách ưu tiên đưa người lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài nhằm nâng cao thu nhập, tiếp cận công nghệ, quản trị hiện đại, rèn luyện kỹ năng, ngoại ngữ, kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp.
Một người lao động có trình độ, kỹ năng nghề khi làm việc trong môi trường sản xuất hiện đại ở nước ngoài có thể tiếp cận công nghệ, quy trình sản xuất, phương thức quản trị, ngoại ngữ, kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp. Khi trở về, những gì tích lũy được trở thành một phần của nguồn nhân lực phục vụ nền kinh tế trong nước.
Vì vậy, theo Thứ trưởng, không nên chỉ nhìn vào số người đi mà phải nhìn vào giá trị mỗi người có thể mang về. Luật lần này cũng đặt vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sau khi họ về nước, trong đó có kết nối thông tin việc làm với thị trường lao động trong nước và cơ chế, chính sách đặc thù đối với một số ngành, nghề yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật hoặc lĩnh vực Nhà nước ưu tiên phát triển.
Tạo điều kiện để lao động trở về và được sử dụng
Trước lo ngại đưa người có trình độ ra nước ngoài có thể dẫn đến “chảy máu” nhân lực, Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng cho rằng nỗi lo lớn hơn là “lãng phí nhân lực”.
Đây là hoạt động đưa người lao động đi làm việc có thời hạn, trên cơ sở hợp đồng. Mục tiêu của chính sách là tạo điều kiện để họ có thêm kỹ năng, ngoại ngữ, kinh nghiệm, tiếp cận công nghệ và sau đó trở về. Tuy nhiên, số lượng, cơ cấu và thị trường trọng điểm vẫn phải được đặt trong tương quan với nhu cầu nhân lực trong nước và nhu cầu của những ngành nghề trọng điểm từng thời kỳ.
Theo tinh thần Thông báo số 123-TB/VPTW, kỹ năng, vốn, ngoại ngữ và tác phong tích lũy ở nước ngoài phải được công nhận, sử dụng, lan tỏa, không để lãng phí; lao động về nước phải được kết nối với doanh nghiệp, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất và chương trình khởi nghiệp. Luật lần này cũng đặt vấn đề kết nối thông tin việc làm của người lao động về nước với thị trường lao động trong nước.
Một điểm mới khác là chuyển từ tiêu chí ưu tiên “ngành nghề Việt Nam có thế mạnh” sang “ngành, nghề, công việc yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật hoặc lĩnh vực Nhà nước ưu tiên phát triển”. Theo Thứ trưởng, cách tiếp cận này xuất phát từ định hướng phát triển của quốc gia, nhằm chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực cho những lĩnh vực đất nước sẽ cần.
Danh mục lĩnh vực ưu tiên phải linh hoạt theo yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội từng giai đoạn, có thể gồm công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ số, bán dẫn, logistics và nông nghiệp công nghệ cao. Chiến lược về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài sẽ xác định cơ cấu thị trường trọng điểm gắn với các lĩnh vực ưu tiên; công tác đàm phán, ký kết thỏa thuận hợp tác lao động với các nước được gắn với nhiệm vụ ngoại giao kinh tế.
Ghi nhận và sử dụng kỹ năng sau khi về nước
Để những kỹ năng tích lũy ở nước ngoài trở thành nguồn lực khi người lao động trở về, việc chuẩn bị nguồn, đào tạo nghề, ngoại ngữ và giáo dục định hướng cần gắn với yêu cầu của từng thị trường, từng ngành nghề.
Trong quá trình làm việc ở nước ngoài, mỗi người lao động được quản lý bằng mã số trên cơ sở dữ liệu chuyên ngành; quá trình làm việc, ngành, nghề, vị trí, thời gian và thị trường được lưu trữ, thống kê. Bộ Nội vụ đang tiếp tục nghiên cứu việc công nhận trình độ, kỹ năng nghề và hồ sơ kỹ năng gắn với chuẩn kỹ năng nghề quốc gia.
Luật lần này bổ sung chính sách tăng cường kết nối thông tin việc làm của người lao động về nước với thị trường lao động trong nước, cùng với kết nối cơ sở dữ liệu về người lao động đi làm việc ở nước ngoài với dữ liệu thị trường lao động. Qua đó, trung tâm dịch vụ việc làm, địa phương và doanh nghiệp có thể chủ động kết nối người lao động với những vị trí phù hợp.
Theo Thứ trưởng, trách nhiệm này không thuộc riêng Bộ Nội vụ. Bộ có trách nhiệm xây dựng thể chế, dữ liệu và điều phối; địa phương chủ động kết nối, hỗ trợ khởi nghiệp; doanh nghiệp dịch vụ đồng hành với người lao động sau khi hoàn thành hợp đồng.
Đối với lao động phổ thông, việc ưu tiên người đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật không có nghĩa là thu hẹp cơ hội. Nhà nước tiếp tục có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng và tín dụng. Các quy định về chuẩn bị nguồn lao động, minh bạch các khoản thu, giám sát tuyển chọn tại địa phương và kiểm soát việc thu tiền đào tạo nhằm bảo vệ người lao động trước nạn lừa đảo, thu phí trái quy định.
Thước đo của chính sách, theo Thứ trưởng, không chỉ là số người được đưa đi mà còn là tỷ lệ lao động đã qua đào tạo, ngành nghề và thị trường làm việc, thu nhập, những gì họ học được, cũng như quyền lợi và sự an toàn của người lao động.
Quan trọng hơn là kết quả sau khi trở về: số người tìm được việc làm phù hợp với kỹ năng đã tích lũy, tham gia những ngành kinh tế đất nước cần, sử dụng vốn và kinh nghiệm để khởi nghiệp hoặc trở thành lực lượng đào tạo, truyền lại kỹ năng cho những lao động khác.