Một đợt sương muối có thể xóa sạch thành quả của nhiều năm vun trồng. Một cơn mưa trái mùa có thể khiến cả vụ cà phê mất trắng. Trước những biến động ngày càng khắc nghiệt của khí hậu vùng cao, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số ở Sơn La đang nỗ lực đi tìm lời giải cho bài toán sinh kế của mình.
***
Chúng tôi đến Bản Đen (xã Mường Chanh, Sơn La) vào một buổi sáng tháng Năm, khi cái nắng đầu hè bắt đầu phủ vàng lên những sườn núi của vùng Tây Bắc. Để đến được đây, từ trung tâm thành phố Sơn La, chúng tôi cần vượt gần 30 cây số đường núi, nơi có những con dốc dựng đứng và những khúc cua tay áo có thể làm nản lòng bất cứ ai. Giữa vời vợi núi cao và thăm thẳm vực sâu, Mường Chanh dần hiện ra với những thửa ruộng bậc thang và những đồi cà phê bạt ngàn xanh biếc.
![]() |
Chúng tôi gặp chị Hà Thị Minh ở đầu bản. Chị là một người phụ nữ dân tộc Thái, mới ngoài 30 nhưng gió sương của cả một đời tảo tần đã hằn in lên nét mặt. Dẫn chúng tôi lên ngọn đồi phía sau bản, chị Minh vừa đi vừa nói: “Trại nhà chị cách đây một quãng không xa đâu”. Cái “quãng không xa” ấy hóa ra là một đoạn đường vô cùng khó khăn với lổn nhổn đất đá và những đoạn bùn ướt nhão sau mưa. Đoạn đường ấy với chúng tôi là một thử thách. Còn với những người nơi đây, đó là con đường họ đi hằng ngày, là con đường mưu sinh quen thuộc mà họ nhớ đến từng con dốc.
Qua vài con suối và vài ngọn đồi trồng cà phê, chúng tôi đến được trại dê của chị Minh. Nơi gọi là “trại” đó thực chất chỉ là một khoảng đất nhỏ nằm khiêm tốn trên đỉnh đồi, vừa để chăn nuôi vừa dựng lên một cái lán nhỏ cho cả gia đình bốn người cùng sinh sống. Những vạt đất thừa xung quanh được tận dụng để nuôi gà, trồng thêm rau, thêm quả mang đi bán. Một không gian chật hẹp, ôm đồm với đủ mọi thứ chen chúc, nhưng chúng tôi hiểu, đó là mảnh đất mưu sinh, là nơi gánh vác kinh tế và nuôi sống cả một gia đình.
Tháng năm, cà phê chỉ mới kết trái non, chưa vào vụ hái quả. Công việc lúc này của chị Minh chủ yếu xoay quanh đàn dê. Tay thoăn thoắt cắt cỏ, dọn chuồng, kiểm tra từng máng ăn, chị làm mọi thứ thành thục như một thói quen đã gắn bó từ lâu.
Thế nhưng, ẩn sau dáng vẻ bình yên ấy, gia đình chị Minh cũng như bao hộ đồng bào dân tộc thiểu số khác ở vùng đất Tây Bắc này đã phải trải qua một hành trình dài chống chọi với những biến động ngày càng khắc nghiệt của thời tiết.
![]() |
Sơn La, một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, vốn là nơi có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo nằm ở mức cao của cả nước. Giữa cái nghèo bủa vây, cây cà phê chè Arabica xuất hiện và trở thành một trong những cây trồng chủ lực, mang theo niềm hy vọng thoát nghèo của hàng ngàn hộ dân.
Ba thế hệ nhà chị Hà Thị Minh đã bám rễ với cây cà phê suốt hơn 10 năm qua. Đó là nguồn thu nhập chính, thậm chí là duy nhất của cả gia đình.
![]() |
Chị Minh kể, ngày nhỏ, chị thường theo cha mẹ lên nương. Bấy giờ, người lớn trong bản có thể nhìn trời, nhìn gió để đoán định thời tiết. Nếu trời quang, gió nhiều và nắng hanh, họ biết đêm đó sẽ có sương muối để đi che chắn cây trồng. Những kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều đời đã trở thành cái “vốn” lớn nhất mà người dân nơi đây có được, ngoài đất đai và sức lao động.
Thế nhưng, thiên nhiên đã không còn vận hành theo những quy luật quen thuộc. Sơn La những năm gần đây phải liên tục hứng chịu những đợt thời tiết phức tạp và cực đoan. Nắng hạn kéo dài thiêu cháy những vạt nương, mưa lũ bất chợt gây ngập úng, sạt lở, cuốn sạch mùa màng. Người dân vùng cao vốn canh tác bằng kinh nghiệm, nay trở tay không kịp trước những biến động của đất trời.
![]() |
Sương muối xuống không chỉ mang theo cái lạnh thấu xương mà còn mang cảnh mất mùa, mang cái nghèo đói dội thẳng xuống mái nhà của hàng nghìn hộ dân. Những gốc cà phê bị tổn thương cần một đến vài năm mới có thể phục hồi. Điều đó đồng nghĩa với việc nguồn thu nhập cũng biến mất trong từng ấy thời gian.
“Được vụ này thì mất vụ sau”, vòng lặp bấp bênh ấy là số phận chung của không biết bao người trồng cà phê xứ này. Để duy trì cuộc sống, gia đình chị Minh lúc nào cũng phải thắt lưng buộc bụng, tích cóp để dành để phòng lúc thiên tai. “Nhưng thế là còn may mắn chán, vì mình vẫn còn đường lui”, chị Minh nói.
Ở Bản Đen này, không phải ai cũng may mắn còn đường lui như thế. Với những hộ khó khăn hơn, không có tiền tích lũy, thì sau những mùa cà phê mất trắng, thứ nhiều lên chỉ là những khoản nợ.
![]() |
Chính từ những mùa cà phê được ít mất nhiều ấy, chị Minh bắt đầu nghĩ đến việc phải tìm một nguồn thu nhập khác.
Nhưng ở Bản Đen, thay đổi chưa bao giờ là chuyện dễ dàng.
Phần lớn cuộc đời của chị Minh gắn với những đồi cà phê. Cũng như nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số khác trong bản, cuộc sống quanh năm quẩn quanh với nương rẫy, ruộng vườn khiến cơ hội tiếp cận với những mô hình mới trở nên xa vời. Thế nhưng, chị Minh hiểu rằng mình không còn nhiều lựa chọn. Chị có gia đình, chị có những đứa con và những khoản chi tiêu không thể trì hoãn. Nếu tiếp tục đặt tất cả hy vọng vào cây cà phê, đồng nghĩa với việc cả gia đình chị sẽ mãi cúi đầu chịu trận trước sự định đoạt của thời tiết
Đúng vào thời điểm ấy, chị Minh có cơ hội tiếp cận với mô hình nuôi dê sinh sản. Cơ duyên đến khi xã Mường Chanh nhận được sự đồng hành, hỗ trợ từ dự án SURE, một dự án phát triển sinh kế bền vững cho phụ nữ dân tộc thiểu số. Sau nhiều năm đặt tất cả hy vọng vào cây cà phê, chị quyết định thử sức với một con đường mới.
Những con dê giống đầu tiên được đưa lên đồi. Chuồng trại được dựng lên bên cạnh nương cà phê. Được hỗ trợ con giống ban đầu và hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, chị Minh từng bước gây dựng một nguồn sinh kế mới ngay trên mảnh đất nương của gia đình
![]() |
Nhớ lại những ngày đầu nuôi dê, chị Minh vẫn còn nguyên cảm giác lo lắng. Mô hình nuôi dê vốn phù hợp với khí hậu và địa hình đồi núi ở Sơn La nhưng lại có những đặc tính đòi hỏi người nuôi phải cực kỳ tỉ mỉ và hiểu biết kỹ thuật. Ba mươi con dê giống giống như một ván cược lớn với gia đình chị. Bởi nếu thuận lợi, cuộc sống của họ có thể bước sang một trang mới, nhưng nếu thất bại, gánh nặng cơm áo vốn đã chật vật nay lại càng khó khăn hơn.
Vượt qua những rào cản số phận, chị Minh đã chủ động tìm hiểu thêm nhiều kiến thức, trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết để phát triển hiệu quả mô hình nuôi dê của gia đình. Những con dê ban đầu chỉ được nuôi với mong muốn "có thêm đồng ra đồng vào" giờ đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của gia đình. Chị Minh cười, bàn tay vẫn thoăn thoắt gom cỏ cho đàn dê: "Những tháng không có thu nhập từ cà phê thì bọn chị bán dê. Cuộc sống khá hơn, mình cũng đỡ lo lắng nhiều."
Có thêm đàn dê, chị Minh có thêm nhiều công việc phải làm. Những ngày lao động cũng vì thế mà dài hơn. Thế nhưng, đổi lại cho những nhọc nhằn ấy là sự yên tâm mà trước đây chị hiếm khi có được. Gia đình chị dần thôi cảnh nơm nớp trông trời trông đất, từng bước bước ra khỏi vòng lặp của những mùa mất, mùa được.
Những cây cà phê vẫn xanh trên sườn núi. Chúng vẫn là nguồn sống của gia đình chị Minh như suốt bao năm qua. Nhưng giờ đây, chúng không còn là chiếc phao sinh kế duy nhất. Một cơ hội mới đã mở ra, cho họ nhiều hơn một con đường để đi, và nhiều hơn một cơ hội để kiếm sống.
![]() |
Giữa trưa, nắng Mường Chanh đổ lửa.
Chúng tôi rời nhà chị Minh, tiếp tục men theo con đường đất đỏ dẫn xuống đồi. Điểm dừng chân là nhà chị Cầm Triệu Tiên, người phụ nữ đã gắn bó với nghề nuôi dê hơn chục năm nay.
![]() |
Khi chúng tôi tới nơi, chuồng dê trước nhà vắng bóng đàn vật nuôi. Chị Tiên cười, đưa tay chỉ về triền đồi phía xa. Dê đang đi ăn cỏ rồi. Mười con dê của gia đình chị đang được người thân lùa lên núi.
Đó là đàn dê chị mới được dự án SURE hỗ trợ mở rộng quy mô từ năm ngoái, nhưng nghề nuôi dê thì đã theo gia đình chị từ rất lâu. Dự án không mang nghề nuôi dê đến cho chị, ngược lại chính chị mang theo hơn mười năm kinh nghiệm nuôi dê bước vào dự án. “Hồi trước bố mẹ chị nuôi tới bốn mươi con cơ”, chị kể. “Ngày ấy còn trồng ngô, trồng sắn nên có nhiều đất chăn thả. Bây giờ ai cũng trồng cây ăn quả, trồng cà phê nên việc chăn nuôi cũng khác rồi”.
Gia đình chị sống chủ yếu dựa vào cà phê. Những gốc cà phê đã gắn bó với gia đình hơn hai mươi năm, nhưng cũng chính cây cà phê khiến chị hiểu rõ thế nào là sự bấp bênh của nghề nông trước biến đổi khí hậu. “Cà phê phụ thuộc thời tiết lắm”, chị nói. Năm nay cà phê ra hoa rất nhiều. Nhưng đúng lúc hoa nở thì cơn mưa kéo dài xuất hiện. “Nó thối hết hoa. Bây giờ đi xem quả thì chẳng thấy đâu”.
![]() |
Sinh kế của gia đình chị Tiên gắn chặt với những đồi cà phê trên đất Sơn La. Và cũng như nhiều hộ dân trong vùng, chị đã nhiều lần chứng kiến công sức của cả một năm lao động bị thử thách bởi những biến động ngày càng khó lường của thời tiết. "Có năm sương muối xuống nhiều, cà phê mất trắng", chị nhớ lại. Những mùa vụ như thế khiến chị hiểu rằng chỉ dựa vào cà phê thôi là chưa đủ.
Khác với cà phê chỉ thu hoạch một vụ mỗi năm, dê mang lại nguồn thu linh hoạt hơn. Con nào đủ trọng lượng thì bán. Hàng xóm cần làm cỗ, làm lễ cúng hay thương lái ghé hỏi mua là có thể xuất chuồng bất cứ lúc nào. Chúng không mang về những khoản thu lớn như cà phê. Nhưng trong những năm tháng thiên nhiên ngày càng thất thường, đàn dê giống như một cách để gia đình chị không phải đặt toàn bộ số phận của mình vào một mùa vụ duy nhất.
"Dê không mất mùa được”, chị cười.
Từ khi tham gia dự án, chị được tham gia các lớp tập huấn về chăn nuôi, chăm sóc vật nuôi và canh tác cà phê thích ứng với biến đổi khí hậu. Khi thời tiết cực đoan xuất hiện, chị Tiên không còn cảm giác hoàn toàn bị động như trước.
![]() |
Những biện pháp ấy không thể ngăn hoàn toàn thiên tai, nhưng giúp người nông dân giảm thiểu thiệt hại và chuẩn bị tốt hơn cho những biến động phía trước.
Khi được hỏi cuộc sống thay đổi thế nào sau khi tham gia dự án, chị Tiên suy nghĩ một lúc rồi trả lời ngắn gọn: “Yên tâm hơn”. Sự yên tâm ấy không đến từ việc những mùa mưa đã thôi thất thường hay những đợt sương muối sẽ không còn quay trở lại. Thiên nhiên vẫn khắc nghiệt theo cách của nó. Những bất trắc mà người nông dân phải đối mặt vẫn còn nguyên đó. Chỉ khác là giờ đây, trước mỗi biến động của thời tiết, chị biết mình có thể làm gì để bảo vệ đàn dê, chăm sóc nương cà phê và giảm bớt những thiệt hại có thể xảy ra.
"Chúng tôi không chỉ trao cần câu, mà còn trao quyền được cầm cần câu", đại diện dự án SURE chia sẻ. Trong nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, phụ nữ là người trực tiếp chăm lo bữa ăn, nguồn nước, nương rẫy và vật nuôi, nhưng lại không phải lúc nào cũng có tiếng nói trong các quyết định kinh tế của gia đình. Vì vậy, dự án SURE không bắt đầu từ con giống hay cây giống, mà bắt đầu từ việc giúp họ tự tin hơn, kết nối với nhau nhiều hơn và có quyền quyết định đối với chính sinh kế của mình.
Theo Tổ chức CARE, phụ nữ không nên chỉ được nhìn nhận như nhóm dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu. Họ chính là những người cảm nhận rõ nhất những thay đổi của thời tiết, kiên trì nhất trong việc tích lũy nguồn lực và cũng là lực lượng có khả năng lan tỏa các giải pháp thích ứng bền vững nhất trong cộng đồng.
Giữa những triền đồi Sơn La, nơi biến đổi khí hậu đang làm thay đổi từng mùa vụ, sức mạnh lớn nhất để thích ứng có lẽ không nằm ở cây trồng hay vật nuôi. Sức mạnh ấy nằm trong những người phụ nữ như chị Minh, chị Tiên. Họ âm thầm gieo xuống mảnh đất này một hạt giống bền bỉ hơn mọi mùa màng.
![]() |
Câu chuyện của chị Hà Thị Minh hay chị Cầm Triệu Tiên không phải là câu chuyện hiếm gặp ở Sơn La. Đằng sau những đồi cà phê bạt ngàn là thực tế của hàng nghìn hộ dân vẫn đang phải đối mặt hàng ngày với những tác động của biến đổi khí hậu.
Theo PGS.TS Bùi Thị An, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, trong đó vùng núi phía Bắc, chính là tâm điểm gánh chịu những tác động này.
“Phụ nữ dân tộc thiểu số thường là nhóm chịu ảnh hưởng sâu sắc hơn cả. Họ vừa phải gánh trách nhiệm chăm lo gia đình, vừa đối mặt với những hạn chế về thông tin, nguồn lực và cơ hội tiếp cận các giải pháp ứng phó”, bà An nhận định.
Tuy nhiên, trên những đồi cà phê bạt ngàn của Mường Chanh, chính những người phụ nữ lam lũ ấy lại không cam chịu đứng ở thế bị động mà vươn lên mạnh mẽ và đi đầu trong việc chuyển đổi sang các mô hình sinh kế xanh để bảo vệ cuộc sống của gia đình.
![]() |
Vấn đề đặt ra không chỉ dừng lại ở những hỗ trợ ban đầu mà còn đòi hỏi những giải pháp dài hạn hơn như đào tạo kỹ năng thích ứng với khí hậu, mở rộng cơ hội tiếp cận tín dụng xanh, tăng cường hệ thống cảnh báo sớm và bảo đảm tiếng nói của phụ nữ trong các quyết định liên quan đến quản lý rủi ro thiên tai ở địa phương.
Chúng tôi rời bản Đen khi trời đã xẩm tối. Những nương cà phê bạt ngàn cứ thế xa mờ rồi chìm dần vào bóng tối của núi rừng Tây Bắc. Thiên nhiên vùng sơn cước này vẫn sẽ khắc nghiệt theo cách của nó. Nhưng ở đâu đó, vẫn có những người phụ nữ đang vươn lên đầy mạnh mẽ, như những đóa hoa rừng luôn lặng lẽ tỏa hương và kiên cường bám núi.











