![]() |
TS. Nguyễn Thị Hoài Phương, giảng viên Khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn |
Khi một di tích rời khỏi không gian vốn có, liệu tính nguyên gốc và mối liên hệ với cộng đồng có còn được bảo đảm? Để làm rõ vấn đề, phóng viên đã trao đổi với TS. Nguyễn Thị Hoài Phương, giảng viên Khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, người có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa và lịch sử văn hóa Việt Nam.
PV: Có quan điểm cho rằng việc di dời và dựng lại một di tích ở nơi khác thực chất là một hình thức “phục dựng” chứ không còn là bảo tồn di tích gốc. Bà nhìn nhận thế nào về quan điểm này?
TS. Nguyễn Thị Hoài Phương: Thông thường, “phục dựng” được hiểu là quá trình tái tạo một di tích hoặc một bộ phận của di tích dựa trên các tư liệu, dữ liệu lịch sử và kết quả nghiên cứu, khảo cổ học nhằm khôi phục những yếu tố đã bị mất hoặc biến đổi.
Trong trường hợp của Đình Đông Côi và Đình Tam Sơn tại Bắc Ninh, di tích vẫn còn tồn tại và các yếu tố cấu thành của di tích chưa bị mất đi. Vì vậy, không đặt ra yêu cầu phải dựa vào tư liệu hay kết quả nghiên cứu để xác định việc bổ sung, tái tạo những thành phần đã bị thiếu hoặc không còn tồn tại. Về bản chất, di dời là quá trình dịch chuyển nguyên trạng di tích từ vị trí hiện tại sang một địa điểm khác, do đó không thể đồng nhất di dời với phục dựng.
PV: Đối với Đình Đông Côi và Đình Tam Sơn, cộng đồng địa phương không chỉ gắn bó với di tích về mặt không gian mà còn là chủ thể lưu giữ ký ức, thực hành văn hóa và đời sống tinh thần. Khi di tích được di dời khỏi vị trí vốn có, theo bà, mối quan hệ giữa di tích và cộng đồng có thể bị thay đổi như thế nào?
TS. Nguyễn Thị Hoài Phương: Khi nghiên cứu về một di tích, bao giờ cũng phải đặt nó trong mối quan hệ với cộng đồng mà nó thuộc về.
Vì vậy, khi di tích Đình Đông Côi và Đình Tam Sơn bị di dời khỏi vị trí vốn có, nó sẽ bị tách khỏi cộng đồng cư dân gốc - những người vốn gắn bó, nuôi dưỡng và là chủ thể văn hóa của di tích và ít nhiều ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa di tích và cộng đồng dân cư. Đình Đông Côi và Đình Tam Sơn nói riêng, hệ thống đình, chùa, lễ hội và các tư liệu sắc phong nói chung là đặc trưng của xứ Kinh Bắc tạo nên một không gian văn hóa liên tục qua nhiều thế hệ. Vì vậy, khi di dời di tích, cộng đồng cư dân cũ cần thời gian để thích nghi với việc di tích không còn hiện hữu trong không gian sống của mình, thậm chí có thể xuất hiện một thiết chế văn hóa mới thay thế.
Ở chiều ngược lại, cộng đồng cư dân mới cũng cần thời gian để tiếp nhận và tạo sự gắn bó với di tích. Các giá trị văn hóa mang tính lịch sử cần có thời gian để thẩm thấu vào cộng đồng. Có những giá trị sẽ được tiếp nhận và trở thành một phần của đời sống văn hóa, nhưng cũng có những giá trị có thể không được tiếp nhận và dần biến mất.
Vì vậy, khi di tích được di dời, cả cộng đồng cũ và cộng đồng mới đều cần thời gian để thích nghi và hình thành lại mối quan hệ với di tích. Không thể ngay lập tức tạo ra sự gắn bó giữa di tích và một cộng đồng mới.
PV: Theo ý kiến của bà, đâu là những yếu tố có thể được bảo toàn, và đâu là những giá trị chắc chắn sẽ bị thay đổi khi di tích rời khỏi vị trí ban đầu?
TS. Nguyễn Thị Hoài Phương: Những yếu tố có thể bảo toàn trước hết là các yếu tố vật chất của di tích. Vì quá trình di dời được thực hiện và quản lý nghiêm ngặt bởi Cục Di sản văn hóa.
Tuy nhiên, cần chấp nhận rằng giá trị tinh thần sẽ có sự biến đổi nhất định. Bởi quá trình di dời không phải chỉ là di dời một công trình kiến trúc thông thường, mà còn di dời những giá trị về mặt tinh thần: những câu chuyện, truyền thuyết và yếu tố tâm linh gắn với vùng đất đó. Đó là những giá trị được hình thành, nuôi dưỡng và phát triển qua thời gian, gắn chặt với vùng đất và cộng đồng cư dân nơi chúng tồn tại.
Quan trọng hơn hết, việc di dời không đơn thuần là thay đổi địa điểm mà phải bảo tồn và phát huy tinh thần, hồn cốt cùng những giá trị của đình, đền gắn với làng, xã, qua đó giữ gìn và tiếp nối truyền thống văn hóa, lịch sử của cộng đồng và dân tộc tại nơi mới.
PV: Theo bà, trước khi quyết định di dời một di tích, cần xem xét và đáp ứng những điều kiện nào? Trong trường hợp nào thì việc di dời có thể được xem là một giải pháp bảo tồn phù hợp, và khi nào thì không nên lựa chọn phương án này?
TS. Nguyễn Thị Hoài Phương: Trước khi quyết định di dời một di tích, phải thực hiện theo đúng quy trình và quy định của pháp luật, trong đó trước hết phải thẩm định kết cấu, nền móng và vật liệu của di tích. Với những công trình như đình, đền, chùa có kết cấu phức tạp, cần xem xét mức độ còn có thể sử dụng của từng bộ phận. Chẳng hạn, những cột gỗ đã bị bào mòn quá nhiều qua thời gian có thể bị cong vênh, hư hỏng khi tháo dỡ và không thể lắp lại như cũ. Những công việc này phải có các chuyên gia về bảo tồn di sản của Cục Di sản văn hóa thực hiện, chứ không thể giao đơn giản cho một đơn vị thi công. Vì vậy, việc di dời có thể mất hàng năm, thậm chí lâu hơn.
Để xác định trường hợp di dời có thể được xem là một giải pháp phù hợp, cần phải căn cứ trước hết vào kết quả thẩm định xem di tích có thể di dời được hay không, đồng thời xem xét giá trị và mức độ xếp hạng của di tích. Với những di tích có giá trị cao, người ta có thể cân nhắc những phương án khác thay vì di dời. Tuy nhiên, việc lựa chọn còn phụ thuộc vào yêu cầu và mức độ ưu tiên của dự án.
Ngược lại, nếu kết quả thẩm định cho thấy di tích thực sự không thể di dời thì không thể lựa chọn phương án này. Cuối cùng, việc có di dời hay không còn phụ thuộc vào chiến lược phát triển của khu vực và sự cân nhắc giữa yêu cầu bảo tồn với yêu cầu phát triển; ý kiến của cộng đồng và chuyên gia là những cơ sở để tham khảo trong quá trình đó.
PV: Hai di tích ở Bắc Ninh có thể không phải trường hợp cuối cùng phải đứng trước yêu cầu di dời để phục vụ phát triển hạ tầng. Từ trường hợp này, bà có thể cho biết đâu là nguyên tắc cần được đặt ra để vừa đáp ứng yêu cầu phát triển, vừa bảo vệ giá trị di sản?
TS. Nguyễn Thị Hoài Phương: Hai di tích này không phải là những trường hợp cuối cùng đứng trước yêu cầu di dời. Tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, đặc biệt là trong quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng, những thay đổi như vậy sẽ còn diễn ra. Nếu ở Hà Nội, tốc độ thay đổi không gian đô thị hiện nay rất nhanh, thậm chí có những việc trước đây chưa từng có.
Tôi cho rằng, di chuyển một di tích không có nghĩa là di tích đó sẽ mất đi. Cũng không phải cứ phá bỏ một không gian thờ tự thì giá trị tinh thần gắn với nơi đó sẽ biến mất.
Có thể thấy, di tích không chỉ nằm ở phần vật chất. Nó còn phải gắn với đời sống tinh thần và với một cộng đồng nào đó. Một công trình được đưa đến một nơi mới, về mặt vật chất vẫn còn nguyên, nhưng nếu không gắn với cộng đồng, không tiếp tục hiện diện trong đời sống tâm linh của người dân thì chưa chắc nó đã thực sự “sống”. Theo tôi, yếu tố vật chất phải gắn với yếu tố tinh thần và phải có một cộng đồng tiếp tục gắn bó với nó thì di tích mới có thể tồn tại một cách thực sự.
