PV: Năm 2026 đánh dấu 50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO. Ông đánh giá như thế nào về sự chuyển mình của Việt Nam trong năm thập kỷ qua và điều gì định hình vai trò của Việt Nam ngày nay với tư cách là một đối tác chiến lược chủ động và đáng tin cậy?
Ông Jonathan Wallace Baker: Trong năm thập kỷ qua, Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội sâu rộng. Từ một quốc gia có thu nhập thấp, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp và đang từng bước hướng tới nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao, đồng thời đạt nhiều thành tựu đáng kể trong giảm nghèo, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu.
Những thành tựu đó đi cùng với cam kết mạnh mẽ về phát triển bền vững. Thông qua Báo cáo quốc gia tự nguyện (Voluntary National Review - VNR), Việt Nam tiếp tục khẳng định quyết tâm thực hiện Các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) cũng như nguyên tắc "không để ai bị bỏ lại phía sau". Quốc gia cũng đã đặt ra các mục tiêu dài hạn, bao gồm trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045 và đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Trong khuôn khổ UNESCO, Việt Nam ngày càng đóng vai trò tích cực hơn trong hợp tác đa phương và quản trị toàn cầu. Việt Nam hiện tham gia nhiều cơ chế quản trị quan trọng của UNESCO và gần đây tiếp tục được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Đại hội đồng UNESCO lần thứ 43, phản ánh sự tin tưởng của các quốc gia thành viên đối với Việt Nam.
Vai trò của Việt Nam ngày nay được định hình bởi nỗ lực gắn kết các ưu tiên phát triển quốc gia với những chương trình nghị sự toàn cầu.
Trong lĩnh vực giáo dục, Việt Nam đang thúc đẩy cải cách nhằm nâng cao chất lượng và tính bao trùm của hệ thống giáo dục, phát triển học tập suốt đời, đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường năng lực đội ngũ giáo viên.
Trong lĩnh vực khoa học, Việt Nam mở rộng hợp tác thông qua mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển, công viên địa chất toàn cầu, các chương trình hợp tác khoa học khu vực cũng như những hoạt động liên quan đến đạo đức trong trí tuệ nhân tạo (AI).
Ở lĩnh vực văn hóa, Việt Nam tiếp tục tăng cường công tác bảo tồn di sản, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và thúc đẩy các mô hình quản lý bền vững dựa vào cộng đồng.
![]() |
Các em nhỏ tham gia Lễ hội Đại dương Xanh do UNESCO và Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (VNIES) tổ chức tại Hà Nội ngày 24/5/2026 nhằm lan tỏa nhận thức về bảo tồn đại dương. Ảnh: UNESCO. |
UNESCO đánh giá Việt Nam là một đối tác mang tính xây dựng, đáng tin cậy, luôn thúc đẩy hợp tác quốc tế và đóng góp tích cực vào các mục tiêu chung của cộng đồng toàn cầu.
PV: Khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, với các ưu tiên về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục và phát triển văn hóa, UNESCO có thể hỗ trợ Việt Nam như thế nào để hiện thực hóa những mục tiêu chiến lược này?
Ông Jonathan Wallace Baker: Trong thời gian tới, Văn phòng UNESCO tại Hà Nội sẽ tập trung triển khai các chương trình có tác động dài hạn và mang tính hệ thống nhằm hỗ trợ tham vọng của Việt Nam trở thành một quốc gia thu nhập cao, đổi mới sáng tạo, bao trùm và có khả năng chống chịu.
Trước hết, chúng tôi sẽ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trong quá trình cải cách giáo dục, với trọng tâm là xây dựng hệ sinh thái học tập suốt đời; phát triển đội ngũ giáo viên; thúc đẩy các chính sách giáo dục bao trùm và nhạy cảm giới; nâng cao sức khỏe tinh thần trong trường học; phát triển kỹ năng số và kỹ năng xanh; củng cố hệ thống dữ liệu giáo dục; đồng thời thúc đẩy đổi mới trong dạy và học.
Thứ hai, UNESCO sẽ tiếp tục tăng cường hỗ trợ Việt Nam thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vì phát triển bền vững trong bối cảnh mới.
Dựa trên mạng lưới gồm 11 Khu Dự trữ sinh quyển thế giới và 3 Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO của Việt Nam, UNESCO sẽ tiếp tục hỗ trợ tăng cường quản trị công tác bảo tồn, giám sát đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển sinh kế bền vững cho các cộng đồng sinh sống trong và xung quanh các khu vực được UNESCO ghi danh.
Chúng tôi cũng sẽ thúc đẩy các cách tiếp cận đối với công nghệ mới nổi, trong đó có trí tuệ nhân tạo (AI), theo hướng lấy con người làm trung tâm và bảo đảm các nguyên tắc đạo đức.
Thứ ba, UNESCO sẽ tiếp tục phát huy vai trò của văn hóa như một động lực của phát triển bền vững thông qua việc hỗ trợ Việt Nam phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo, nâng cao hiệu quả quản lý di sản theo các tiêu chuẩn quốc tế và thúc đẩy du lịch bền vững dựa vào cộng đồng tại các địa điểm được UNESCO ghi danh.
Đồng thời, chúng tôi sẽ hỗ trợ mở rộng các mạng lưới như Mạng lưới Các Thành phố Sáng tạo của UNESCO, cũng như thúc đẩy sự tham gia bình đẳng và toàn diện của thanh niên và phụ nữ vào quá trình phát triển văn hóa.
Thứ tư, UNESCO sẽ thúc đẩy các ưu tiên trong lĩnh vực thông tin và truyền thông, bao gồm nâng cao năng lực thông tin và truyền thông (Media and Information Literacy - MIL), phát triển kỹ năng số và xây dựng môi trường thông tin an toàn, bao trùm hơn.
Trong tất cả các lĩnh vực này, UNESCO sẽ tiếp tục coi bình đẳng giới, trao quyền cho thanh niên, thúc đẩy sự tham gia của các cộng đồng dân tộc, chuyển đổi số và tăng cường khả năng chống chịu trước các rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu là những yếu tố xuyên suốt của phát triển bền vững.
Chúng tôi tin rằng đây không phải là những ưu tiên tách biệt với phát triển, mà là những điều kiện thiết yếu để bảo đảm tăng trưởng luôn mang tính bao trùm, lấy con người làm trung tâm và hướng tới tương lai.
![]() |
Lễ bế mạc giai đoạn 2 dự án "We Are ABLE for a Seamless Future", đánh dấu ba năm UNESCO phối hợp cùng các cơ quan quản lý giáo dục, trường đại học, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương thúc đẩy giáo dục STEAM tại Việt Nam. Ảnh: UNESCO. |
Bên cạnh đó, UNESCO sẽ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam thông qua hợp tác kỹ thuật, chia sẻ tri thức và đối thoại chính sách, góp phần chuyển hóa các tiêu chuẩn toàn cầu thành những hành động cụ thể ở cấp quốc gia.
Trong những năm gần đây, UNESCO đã hỗ trợ nhiều quá trình xây dựng chính sách quan trọng của Việt Nam, bao gồm Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2021–2030, Luật Nhà giáo đầu tiên của Việt Nam, việc áp dụng Phương pháp đánh giá mức độ sẵn sàng về AI (AI Readiness Assessment Methodology) để phục vụ quá trình xây dựng Luật Trí tuệ nhân tạo, cũng như đóng góp ý kiến kỹ thuật cho Luật Di sản văn hóa (sửa đổi).
Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục cam kết đồng hành cùng Việt Nam trong việc xây dựng các chính sách và quan hệ đối tác đặt con người, sự sáng tạo, tri thức và phát triển bền vững vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển (còn tiếp).

