Sau khi xem suất chiếu sớm Huyền Tình Dạ Trạch, bộ phim điện ảnh đầu tay của Đài Hà Nội (nay là Cơ quan Báo chí và Phát thanh Truyền hình Hà Nội) về thời kỳ sơ sử Việt Nam, tôi liên tục nghĩ về hình tượng ấy. Qua lăng kính chính truyền thuyết mà phim khai thác, tôi nhận thấy điện ảnh cũng như văn hóa, không tồn tại phép màu tức thì, những bước đi tiên phong dù chưa hoàn hảo, mới là nền tảng cần thiết để xây dựng một nền điện ảnh bền vững dài lâu. Và Huyền Tình Dạ Trạch, là một bước đi đáng ghi nhận theo hướng đó.
Lấy cảm hứng từ Chử Đồng Tử, một trong Tứ Bất Tử linh thiêng nhất của tâm thức người Việt, bộ phim kể lại thiên tình sử lãng mạn giữa mị nương Tiên Dung và chàng trai thường dân Văn Lang. Mối tình ấy ý vị hơn khi đặt trong bối cảnh thuở hồng hoang khi tổ tiên ta đang khai phá đất đai, dựng xây cộng đồng và bảo vệ không gian sống. Và phim không chỉ dừng lại ở câu chuyện tình yêu vượt qua rào cản giai cấp, mà còn khéo léo dẫn dắt khán giả khám phá nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ, một giai đoạn sử cách nay hơn 2.000 năm, hiếm hoi được tái hiện trên màn ảnh do sử liệu ít ỏi và mơ hồ.
Đặc biệt ra mắt đúng dịp Valentine và trước Tết Nguyên Đán, phim trở thành lời nhắc nhở về vị thánh bảo hộ tình yêu và thương nghiệp trong tín ngưỡng dân gian, đồng thời khơi dậy dòng cảm thức tự hào về hành trình lập nghiệp của cư dân đồng bằng Bắc Bộ với khát vọng phồn vinh. Giá trị ấy càng được củng cố nhờ sự tư vấn của các chuyên gia lịch sử – văn hóa uy tín là GS.TS Vũ Minh Giang, PGS.TS Bùi Minh Trí, TS Phạm Đức Anh…, giúp phim không chỉ mang tính giải trí mà còn có giá trị thông tin sâu sắc, tái hiện khá thuyết phục đời sống vật chất lẫn tinh thần cách nay hai thiên niên kỷ.
Từ nền tảng nội dung ấy, phim tiếp tục gây ấn tượng bởi nỗ lực mà tôi cho rằng vượt bậc trong khâu kỹ thuật, dù phải đối mặt với những hạn chế rõ ràng về thời gian và kinh phí. Phần phục trang có lẽ là điểm nổi bật nhất, được chăm chút đến từng chi tiết nhỏ như miếng hộ tâm phiến với họa tiết Đông Sơn đặc trưng, vòng tay, vũ khí, đến đuôi tóc, thắt lưng... Tất cả những thiết kế này đều được họa sĩ Nguyễn Thành Phong lấy cảm hứng trực tiếp từ hiện vật khai quật tại các di chỉ.
Trong khi nhà nghiên cứu cổ phục Nguyễn Văn Hiệu, người từng tham gia 6 dự án điện ảnh cổ trang trước đó, đảm nhận khâu thực thi. Dù thời gian gấp rút (chỉ hoàn thành một tuần trước khi quay), dẫn đến một số chi tiết trang phục không như Hiệu mong muốn trong chia sẻ của anh. Theo đó, lông chim hay chất liệu hộ tâm phiến in 3D thay vì làm bằng đồng, chưa đạt độ chân thực tối ưu. Dẫu vậy, tôi tin ê-kíp đã chọn và làm được những điều tốt nhất tạo nên không khí thời đại Đông Sơn rõ nét. Đặc biệt, việc làm răng đen cho hầu hết diễn viên, đã gợi lại nét duyên ngầm của dân tộc, tạo ra sự phân biệt văn hóa tinh tế, khiến thế giới phim trở nên sống động và thuyết phục.
![]() |
![]() |
![]() |
| Phục trang phỏng dụng văn hóa Đông Sơn và phong tục văn thân (xăm mình) được làm rõ nét trong Huyền Tình Dạ Trạch |
Âm nhạc và hình ảnh là hai yếu tố ấn tượng giúp Huyền Tình Dạ Trạch tiếp nối liền mạch, nâng tầm trải nghiệm cảm xúc. Với sự tham gia của Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Honna Tetsuji, nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng đã sáng tạo một bản tổng phổ đồ sộ, kết hợp hài hòa giữa dàn nhạc phương Tây và linh hồn dân tộc qua các nhạc cụ như khèn H'Mông, chiêng hay đàn môi. Bản nhạc không chỉ chắp cánh diễn xuất cho dàn diễn viên trẻ, mà còn giúp khán giả có những khoảng lặng để hình dung sâu hơn vào đời sống tinh thần của tổ tiên.
Với nhiều thước phim đẹp như tại kinh đô Văn Lang hùng vĩ, phân đoạn lãng mạn dưới nước giữa Chử Đồng Tử và Tiên Dung, hay trận giao chiến dưới mưa trên bến Trạch với những chiếc thuyền cổ phỏng theo hoa văn trống đồng Ngọc Lũ, tất cả mang một vẻ bàng bạc thơ mộng và sức sống thiên nhiên mãnh liệt. Công đoạn VFX với khoảng 300 cảnh, do chuyên gia Đinh Việt Phương và cộng sự thực hiện, tập trung tái tạo sóng nước, bùn lầy, khói lửa và thương cảng Dạ Trạch sầm uất, đồng thời xóa bỏ dấu vết hiện đại. Dù một số hiệu ứng còn thô do thời gian eo hẹp, tổng thể vẫn tạo cảm giác chân thực, như đưa khán giả lạc vào một trung tâm giao thương phồn thịnh của thời kỳ Đông Sơn.
![]() |
![]() |
![]() |
Phim gây ấn tượng bởi những cảnh quay đẹp và âm nhạc công phu |
Cách tiếp cận truyền thuyết cũng thể hiện sự khôn ngoan của ê-kíp. Thay vì cố gắng tái hiện toàn bộ Truyện Nhất Dạ Trạch trong Lĩnh Nam Chích Quái vốn phức tạp với nhiều lớp yếu tố văn hóa (thương mại, Phật giáo, sự trỗi dậy và phân chia quyền lực tộc người…), phim chọn lối kể như một “giả thuyết” riêng. Trong đó, Chử Đồng Tử là thủ lĩnh thực tế của một tộc người khai khẩn vùng đất phía Đông kinh đô Văn Lang, gặp gỡ mị nương Tiên Dung và cùng xây dựng nên sự thịnh vượng cho Dạ Trạch, trước cuộc chiến với các tộc người khác và thiên nhiên qua ẩn dụ về cơn đại hồng thủy. Cách làm này không chỉ tránh tranh cãi về sử liệu mà còn giải quyết hiệu quả bài toán kinh phí, đồng thời giữ cho câu chuyện gần gũi với tư duy khán giả hiện đại. Tuy nhiên, nó cũng dẫn đến nhịp phim ở phần cuối đẩy nhanh bất thường, dễ gây hụt hẫng cho người xem, một điểm cần bàn để ê-kíp cải thiện sau này.
Đáng chú ý, phim nhấn mạnh khái niệm "Lạc" thay vì "Việt". Theo sử gia Keith Taylor trong The Birth of Vietnam (1983), cuốn khảo cứu hàng đầu về thời kỳ sơ sử và Bắc thuộc, "Lạc" là danh xưng cổ xưa hơn, thể hiện bản sắc riêng biệt, nguyên sơ của dân tộc trước khi chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Hán. Lời thoại trong phim được xây dựng mộc mạc, gần gũi, mang đậm tư duy hòa hợp với thiên nhiên. Điểm đáng khen là biên kịch đã nỗ lực vượt qua lớp phủ Nho giáo, hạn chế tối đa việc sử dụng từ Hán Việt, tạo nên cảm giác tươi mới và cố gắng tái hiện một phần cảm thức bản sắc Việt Nam thời kỳ sơ sử, dù vẫn còn dáng dấp thô sơ, chưa hoàn thiện.
Dàn diễn viên là một trong những điểm tựa quan trọng của phim, đặc biệt nhờ sự góp mặt của các nghệ sĩ gạo cội như NSND Nguyễn Trọng Trinh (vai vua Hùng), NSƯT Chiều Xuân (vai Vương hậu), NSND Bùi Bài Bình, NSƯT Văn Báu, Viết Liên… Hai vai chính – Chử Đồng Tử và Tiên Dung, được giao cho các gương mặt trẻ Nguyễn Xuân Phúc và Lê Trần Thanh Tâm (sinh viên năm ba Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội). Cả hai đã nỗ lực đối mặt với thách thức không nhỏ khi hóa thân vào những nhân vật huyền thoại, đòi hỏi sự am hiểu về một xã hội cách đây hai thiên niên kỷ. Diễn xuất của họ dừng ở mức tương đối, đủ để dẫn dắt mạch chuyện trên nền kịch bản vốn không đặt ra quá nhiều thử thách về cảm xúc hay kỹ thuật phức tạp. Dù vậy, phần thể hiện vẫn thiếu những đột phá hay chiều sâu, một hạn chế khá rõ rệt. Dù có thể phần nào lý giải bởi độ khó của thể loại huyền sử cùng nguồn tài liệu lịch sử hạn chế.
![]() |
![]() |
![]() |
Ẩn sâu trong truyền thuyết về Chử Đồng Tử là nỗ lực khai phá thiên nhiên, khát vọng mang lại sự ấm no, thịnh vượng cho cư dân bản địa |
Huyền Tình Dạ Trạch là dự án bước ngoặt khi một đài truyền hình địa phương lần đầu tham gia sản xuất phim chiếu rạp. Với cá nhân tôi, bộ phim gợi nhớ rõ nét đến dòng phim truyện truyền hình 1 hoặc 2 tập từng rất thịnh hành trước đây. Một thể loại cô đọng, giàu ý tưởng, đậm chất văn chương, trong đó một số tác phẩm thậm chí có thể sánh ngang với phim chiếu rạp và từng là món ăn tinh thần quen thuộc của công chúng. Tuy nhiên, dòng phim ấy đã dần mai một trước sức ép từ quảng cáo cùng xu hướng chuyển sang sản xuất phim dài tập. Gần đây, trên các nền tảng trực tuyến, khán giả thường bày tỏ nỗi hoài niệm về thể loại “hybrid” đặc trưng này. Biết đâu, Huyền Tình Dạ Trạch có thể trở thành nguồn khích lệ để nối tiếp tinh thần ấy trong bối cảnh điện ảnh đương đại, mang hơi thở của một thời đã qua vào định dạng mới.
Quay trở lại với ẩn dụ về “tòa thành nhất dạ”, quả thực trong Huyền Tình Dạ Trạch không hề có bất kỳ công trình nào mọc lên chỉ trong một đêm. Tương tự, nếu chúng ta chỉ trông chờ vào những kiệt tác điện ảnh xuất hiện chớp nhoáng, chúng ta sẽ dễ bỏ lỡ chính những viên gạch nền tảng quan trọng. Và tôi tin có lẽ trong thẳm sâu lịch sử, đã chẳng có phép màu nào ngoài đôi tay, khối óc và sự bền bỉ khai phá của Chử Đạo Tổ, từng bước biến vùng đất hoang vu thành nơi trù phú.
Chúng ta mong muốn những bộ phim lịch sử Việt Nam ngày càng chất lượng hơn, sao không thử bắt đầu bằng việc ra rạp từ ngày 10/02/2026 và nhiều ngày tiếp theo đó để thưởng thức Huyền Tình Dạ Trạch và các tác phẩm Việt khác? Sau đó, hãy chia sẻ phản biện cụ thể trên các diễn đàn, góp phần tạo động lực nâng cao chất lượng, đồng thời tiếp tục ủng hộ những dự án tương tự.
Chỉ khi khán giả, nhà phê bình và toàn ngành điện ảnh cùng nhau nỗ lực, chúng ta mới có thể xây dựng một nền điện ảnh Việt Nam vững mạnh, xứng tầm với chiều sâu văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc.








