Đầu tư cho giáo dục tại Việt Nam có xu hướng tăng đều trong 10 năm qua

0:00 / 0:00
0:00
(Ngày Nay) - Ngày 8/8, tại Hà Nội, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) tổ chức hội thảo “Công bố Báo cáo phân tích ngành giáo dục 2011 - 2020” nhằm đánh giá những thành tựu phát triển giáo dục của Việt Nam trong 10 năm qua và đề xuất định hướng, chính sách phát triển giáo dục giai đoạn 2021-2030.
Ảnh minh hoạ.
Ảnh minh hoạ.

Tại hội thảo, chia sẻ kết quả khảo sát, phân tích chất lượng giáo dục phổ thông của Việt Nam, Giáo sư, Tiến sỹ Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho biết: Việt Nam đã đạt những kết quả ấn tượng theo chương trình đánh giá PISA (chương trình đánh giá học sinh quốc tế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD). Tại PISA 2012 và 2015, điểm trung bình của học sinh Việt Nam vượt trội so với học sinh OECD ở tất cả môn, trừ đọc hiểu (2015). Trong đó, năm 2015 các em thể hiện sự vượt trội với môn Khoa học, khi xếp thứ 8 trên 70 quốc gia. Thứ hạng môn Toán và Đọc hiểu lần lượt đạt 22 và 32.

Đáng chú ý, theo Giáo sư, Tiến sỹ Lê Anh Vinh, khi phân tích kết quả Toán của Việt Nam tại PISA 2018, nhóm tác giả của báo cáo nhận thấy, học sinh phổ thông Việt Nam nổi trội ở những bài tập khó – đòi hỏi khả năng vận dụng thực tiễn. Tuy nhiên, với những bài ở mức độ đọc hiểu, nhận biết, các em lại làm chưa tốt. Một trong những lý do dẫn đến thực trạng này là học sinh Việt Nam đã quen với các dạng câu hỏi ứng dụng, nghiêng về kỹ thuật. Các kỳ thi trong nước thường thiết kế câu hỏi tập trung ở dạng vận dụng, ứng dụng thực tiễn, số lượng câu hỏi về đọc hiểu, lý thuyết không nhiều nên học sinh ít thực hành hơn.

Nhận định chung về chất lượng giáo dục phổ thông Việt Nam, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng: Giáo dục Tiểu học đã thành công trong việc trang bị cho học sinh lớp 5 các kỹ năng đọc, viết và làm Toán cơ bản. Cụ thể, 70-84% học sinh lớp 5 đạt chuẩn tối thiểu môn Toán (trắc nghiệm) và Tiếng Việt (năm học 2013-2014). Tuy nhiên, học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông không duy trì được tỷ lệ này. Ví dụ, năm học 2013-2014, chỉ 45% học sinh lớp 9 tại Việt Nam đạt chuẩn môn Toán, con số này với môn Tiếng Anh là 53%. Đến lớp 12 (năm học 2014-2015), tỷ lệ đạt chuẩn Toán cao hơn, đạt 52% nhưng tiếng Anh chỉ 40%.

Ở bậc đại học, quy mô sinh viên tăng trưởng mạnh vào năm 2014 (bằng 109,3%), giảm nhẹ vào năm 2018 (70,2%) và lại tiếp tục nhích lên vào năm 2019 (79%). Năm 2018 có hơn 108 nghìn du học sinh Việt Nam ở nước ngoài, bằng 3,6% tổng số sinh viên Việt Nam. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học cũng tăng mạnh ở những năm 2015-2016 và giảm nhẹ ở năm 2019.

Đáng chú ý, một số ngành nghề, trình độ của sinh viên tốt nghiệp của những cơ sở đào tạo hàng đầu như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội… đã tiếp cận trình độ sinh viên tốt nghiệp của các trường đại học trong khu vực. Năm 2018, tỷ lệ sinh viên của 181 cơ sở đại học, 40 trường cao đẳng có việc làm sau khi tốt nghiệp là 65,5%. Nhưng tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng lại cao hơn ở trình độ trung cấp.

Từ những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, nhóm nghiên cứu Báo cáo phân tích ngành giáo dục giai đoạn 2011-2022 đề xuất, cần phát triển giáo dục đại học theo hướng tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao có khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, có tư duy đổi mới sáng tạo và đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội và nghiên cứu khoa học kỹ thuật.

Về tài chính, theo báo cáo của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, đầu tư cho giáo dục tại Việt Nam có xu hướng tăng đều trong 10 năm qua, đạt hơn 18% tổng chi ngân sách nhà nước nhưng thấp hơn so với mức 20% được đề ra. Chi ngân sách bình quân trên mỗi học sinh mầm non và phổ thông tương đối đồng đều. Tuy nhiên, chi ngân sách bình quân trên mỗi sinh viên ở bậc đại học còn thấp so với quốc tế. Tỷ lệ học sinh, sinh viên được miễn học phí ở bậc Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học còn thấp.

Tính trung bình, gia đình đóng góp khoảng 24% tổng chi phí cho học sinh (mầm non, tiểu học, phổ thông) đi học và mức đóng góp có xu hướng tăng dần theo cấp học. Trong đó, chi phí học thêm là khoản lớn nhất đối với gia đình học sinh phổ thông. Đối với Tiểu học là 32%; Trung học cơ sở là 42% và Trung học phổ thông là 43%./.

Rapper Mason Nguyễn
Sạp show 2026: dàn nghệ sĩ “cháy” hết mình dưới cơn mưa, mang đến đêm nhạc đầy cảm xúc
(Ngày Nay) - Tối 30/5/2026, tại Trung tâm Cung ứng Dịch vụ công, phường Bến Thành, TP. Hồ Chí Minh, Sạp Show 2026 đã diễn ra trong không khí sôi động với sự góp mặt của nhiều nghệ sĩ trẻ được yêu mến. Bất chấp cơn mưa nặng hạt kéo dài trong đêm diễn, khán giả vẫn ở lại hòa mình vào âm nhạc, tạo nên một trong những khoảnh khắc đáng nhớ nhất của chương trình.
Tuồng, Chèo và Cải lương lần đầu tiên cùng xuất hiện trong một tác phẩm nghệ thuật sau sáp nhập (Ảnh: Khánh Ly)
“Hạ Hồi Show” đánh dấu lần đầu Tuồng, Chèo, Cải lương chung một sân khấu
(Ngày Nay) - Tối 30/5 tại Rạp Hồng Hà (Hà Nội), chương trình tạp kỹ “Hạ Hồi Show - Bí mật triều đại phép thuật” đã chính thức ra mắt khán giả. Sự kiện thu hút sự quan tâm của đông đảo người yêu nghệ thuật khi đánh dấu lần đầu tiên ba loại hình sân khấu truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương cùng hội tụ trong một tác phẩm biểu diễn thống nhất.
Đột phá theo Nghị quyết 57, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu đổi mới
Đột phá theo Nghị quyết 57, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu đổi mới
(Ngày Nay) - Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đặt ra nhiệm vụ rất rõ ràng: Muốn vượt qua bẫy thu nhập trung bình để trở thành nước phát triển, muốn xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập hiệu quả, không có con đường nào khác ngoài đột phá phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Nghệ nhân Lê Văn Tuy
Nghệ nhân Lê Văn Tuy: “Giữ nghề nón là giữ một phần hồn quê”
(Ngày Nay) - Trong những năm gần đây, nón lá Làng Chuông dần được “làm mới” thông qua các hoạt động du lịch trải nghiệm, workshop thủ công và quảng bá văn hóa tới du khách trong và ngoài nước. Giữa sự chuyển mình ấy, nghệ nhân Lê Văn Tuy vẫn dành hơn nửa thế kỷ lặng lẽ ngồi bên những vành tre, lớp lá. Với ông, giữ nghề hôm nay không chỉ là giữ một kế sinh nhai, mà còn là giữ lại nhịp ký ức và hồn cốt của làng nghề truyền thống giữa dòng chảy hiện đại.