Định hướng chiến lược
Di sản văn hóa và thiên nhiên là kết tinh của lịch sử dân tộc, phản ánh chiều sâu bản sắc, trí tuệ, tâm hồn và năng lực sáng tạo của cộng đồng qua nhiều thế hệ. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định nhiệm vụ “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” là hết sức quan trọng.
Quan điểm này cho thấy văn hóa và di sản không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Trong tiến trình phát triển của nhân loại, di sản không chỉ mang giá trị tinh thần, lịch sử và giáo dục mà còn trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hình ảnh quốc gia và nâng cao vị thế của mỗi dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế.
Việt Nam là quốc gia có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước với kho tàng di sản vô cùng phong phú, đa dạng và giàu bản sắc. Từ những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, các di sản thiên nhiên, di sản tư liệu cho đến hệ thống tri thức bản địa, nghề truyền thống và không gian văn hóa cộng đồng, tất cả đã tạo nên nền tảng văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Đây không chỉ là tài sản vô giá của cha ông để lại mà còn là nguồn lực chiến lược phục vụ phát triển đất nước trong thời đại mới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số, kinh tế xanh và phát triển bền vững đang trở thành xu thế tất yếu của thế giới, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ bảo tồn di sản mà còn phải tìm ra cơ chế kết nối, phát huy và chuyển hóa giá trị di sản thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Việc xây dựng các mô hình kết nối di sản gắn với văn hóa, du lịch, giáo dục, công nghiệp sáng tạo và phát triển cộng đồng đang mở ra hướng đi mới cho chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam.
![]() |
| Vịnh Hạ Long không chỉ mang giá trị lịch sử và thẩm mỹ mà còn trở thành biểu tượng văn hóa của Việt Nam |
Khái niệm Di sản văn hóa đã được xác định rõ trong Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2024. Theo đó, “Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa vật thể được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản ở Việt Nam hiện nay.
Trên bình diện quốc tế, Công ước UNESCO năm 1972 về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới nhấn mạnh rằng “Sự xuống cấp hoặc biến mất của bất kỳ một di sản văn hóa hoặc thiên nhiên nào đều làm nghèo đi di sản của tất cả các dân tộc trên thế giới.” Đây được xem là tư tưởng cốt lõi của Công ước 1972. Công ước cũng xác định trách nhiệm của mỗi quốc gia trong việc nhận diện, bảo vệ, bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ tương lai các di sản nằm trên lãnh thổ của mình.
Đối với di sản văn hóa phi vật thể, Công ước UNESCO năm 2003 khẳng định rằng di sản phi vật thể được thể hiện thông qua các tập quán, hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng cùng với các công cụ, đồ vật và không gian văn hóa liên quan mà cộng đồng và các nhóm người thừa nhận là một phần di sản văn hóa của mình. Công ước 2003 đặc biệt nhấn mạnh vai trò trung tâm của cộng đồng trong việc sáng tạo, lưu giữ và trao truyền di sản. “Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, lưu giữ, trao truyền và phát huy di sản”, “Không có cộng đồng thì không có di sản phi vật thể”. Đây là nguyên tắc nền tảng của Công ước 2003. Công ước cũng xác định 4 mục tiêu và nhiệm vụ lớn là: (i) bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể; (ii) tôn trọng di sản của các cộng đồng và các nhóm người; (iii) nâng cao nhận thức về giá trị của di sản phi vật thể ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế; (iv) thúc đẩy hợp tác và hỗ trợ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ di sản.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm phát triển văn hóa ngang tầm với kinh tế, chính trị và xã hội; đồng thời xác định nhiệm vụ “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Đây là định hướng chiến lược có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy giá trị di sản trong thời đại mới.
Di sản Việt Nam – Nguồn lực văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia
Di sản là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành trong lịch sử, được cộng đồng lưu giữ, trao truyền và phát huy qua nhiều thế hệ. Di sản không chỉ phản ánh quá trình phát triển của một dân tộc mà còn thể hiện trình độ văn minh, tư duy sáng tạo và bản sắc văn hóa của cộng đồng xã hội.
Đối với Việt Nam, di sản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi đây là nền tảng tạo nên bản sắc dân tộc và sức mạnh tinh thần của đất nước. Hệ thống di sản Việt Nam hiện nay rất phong phú với hàng chục nghìn di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh cùng nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống và tri thức bản địa đặc sắc.
Nhiều di sản của Việt Nam đã được UNESCO ghi danh, qua đó khẳng định giá trị toàn cầu của văn hóa Việt Nam trong tiến trình phát triển của nhân loại. Các di sản như Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Hoàng thành Thăng Long, Danh thắng Tràng An hay Vịnh Hạ Long không chỉ mang giá trị lịch sử và thẩm mỹ mà còn trở thành biểu tượng văn hóa của quốc gia. Bên cạnh đó, các loại hình di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh như: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; Nhã nhạc cung đình Huế; Dân ca Quan họ Bắc Ninh; Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ; Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái; Nghệ thuật Xòe Thái; Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên; Dân Ca Ví dặm Nghệ Tĩnh; Nghệ thuật đờn ca Tài Tử Nam Bộ; Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ; Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam… đã góp phần khẳng định sự đa dạng văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
![]() |
Nghệ thuật Xòe Thái hấp dẫn cả du khách trong nước và quốc tế |
Trong thời đại hội nhập quốc tế, di sản ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của sức mạnh mềm quốc gia. Nếu như trước đây di sản chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ bảo tồn văn hóa thì hiện nay di sản còn là công cụ quảng bá hình ảnh đất nước, thúc đẩy ngoại giao văn hóa, phát triển du lịch và tạo ra giá trị kinh tế. Nhiều quốc gia trên thế giới đã thành công trong việc chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển bền vững, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Đối với Việt Nam, việc phát huy giá trị di sản không chỉ nhằm gìn giữ truyền thống mà còn là quá trình khơi dậy khát vọng phát triển, củng cố tinh thần đoàn kết dân tộc và tạo nền tảng văn hóa cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Công tác trùng tu di tích, phục dựng lễ hội truyền thống, bảo tồn nghệ thuật dân gian và phát triển du lịch văn hóa đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhiều địa phương đã bước đầu hình thành các mô hình khai thác di sản gắn với phát triển du lịch cộng đồng, xây dựng sản phẩm OCOP, phát triển làng nghề truyền thống và quảng bá văn hóa bản địa. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và truyền thông đa phương tiện đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc quảng bá di sản. Các nền tảng mạng xã hội, công nghệ thực tế ảo, bảo tàng số và các hình thức truyền thông hiện đại đang giúp di sản tiếp cận gần hơn với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác kết nối và phát huy giá trị di sản hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều di sản vẫn tồn tại riêng lẻ, thiếu tính liên kết vùng và chưa hình thành được chuỗi giá trị phát triển bền vững. Một số địa phương còn khai thác di sản theo hướng thương mại hóa ngắn hạn, làm giảm giá trị văn hóa và ảnh hưởng đến tính nguyên gốc của di sản.
Một trong những khó khăn lớn hiện nay là nguồn nhân lực làm công tác bảo tồn và quản trị di sản còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý và quảng bá di sản vẫn còn hạn chế, chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu đồng bộ và chưa phát huy hiệu quả các nền tảng kết nối trực tuyến.
Ngoài ra, vai trò của cộng đồng trong hoạt động bảo tồn và phát huy di sản ở nhiều nơi vẫn chưa được phát huy đầy đủ. Trong khi đó, cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, lưu giữ và trao truyền di sản qua nhiều thế hệ. Nếu cộng đồng không thực sự được tham gia và hưởng lợi từ di sản thì công tác bảo tồn khó có thể phát triển bền vững.
Kết nối di sản – Xu hướng phát triển trong thời đại mới
Trong bối cảnh phát triển hiện nay, kết nối di sản đang trở thành xu hướng tất yếu nhằm tạo ra giá trị mới cho văn hóa và kinh tế. Kết nối di sản không chỉ là sự liên kết giữa các loại hình di sản mà còn là quá trình kết nối giữa văn hóa với du lịch, giáo dục, công nghệ, kinh tế sáng tạo và phát triển cộng đồng.
Việc hình thành các không gian văn hóa di sản, các tuyến du lịch trải nghiệm, các mô hình du lịch cộng đồng hay hệ sinh thái văn hóa bản địa đang mở ra hướng đi mới cho phát triển kinh tế địa phương. Những mô hình như Không gian văn hóa Trà Shan Tuyết Suối Giàng, Không gian văn hóa Trà Hoa Vàng Ninh Bình; Không gian văn hóa Mường Hòa Bình… hay các mô hình du lịch sinh thái gắn với di sản bản địa đã cho thấy khả năng tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển cộng đồng.
![]() |
Không gian văn hóa Mường Hòa Bình |
![]() |
Không gian văn hóa Trà Shan Tuyết Suối Giàng |
Trong thời đại chuyển đổi số, việc kết nối di sản với công nghệ là yêu cầu cấp thiết. Công nghệ số không chỉ hỗ trợ bảo tồn mà còn tạo ra các hình thức tiếp cận mới đối với di sản. Các nền tảng số, dữ liệu số hóa, bảo tàng ảo, thực tế tăng cường và trí tuệ nhân tạo đang tạo điều kiện để di sản được lan tỏa mạnh mẽ hơn trong xã hội.
Kết nối di sản cũng đồng nghĩa với việc xây dựng hệ sinh thái phát triển bền vững dựa trên nền tảng văn hóa. Trong hệ sinh thái đó, cộng đồng giữ vai trò trung tâm. Người dân không chỉ là người gìn giữ di sản mà còn là người trực tiếp tạo ra giá trị kinh tế từ di sản thông qua du lịch, sản phẩm văn hóa, nghệ thuật biểu diễn và các hoạt động sáng tạo.
Đặc biệt, việc kết nối di sản với giáo dục có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách, bản sắc và lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ. Khi di sản được đưa vào trường học, các hoạt động trải nghiệm và giáo dục cộng đồng, giá trị văn hóa truyền thống sẽ được lan tỏa và tiếp nối một cách tự nhiên.
Phát huy giá trị di sản tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội
Trong xu thế phát triển kinh tế hiện đại, văn hóa ngày càng được nhìn nhận là nguồn lực nội sinh quan trọng của quốc gia. Di sản không chỉ có giá trị tinh thần mà còn có khả năng tạo ra giá trị kinh tế rất lớn nếu được khai thác đúng hướng.
Du lịch văn hóa hiện đang trở thành một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới. Đối với Việt Nam, các di sản văn hóa và thiên nhiên chính là lợi thế cạnh tranh quan trọng để phát triển du lịch bền vững. Nhiều địa phương đã thành công trong việc biến di sản thành động lực tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân.
Bên cạnh du lịch, di sản còn tạo nền tảng cho phát triển kinh tế sáng tạo. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế văn hóa, truyền thông số và các sản phẩm OCOP gắn với văn hóa bản địa đang tạo ra giá trị kinh tế ngày càng lớn. Đây là xu hướng phù hợp với chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam trong thời kỳ mới.
Di sản cũng có vai trò quan trọng trong xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế xanh. Việc kết hợp bảo tồn di sản với phát triển nông nghiệp sinh thái, du lịch cộng đồng, dược liệu, trà cổ thụ và văn hóa bản địa không chỉ tạo sinh kế cho người dân mà còn góp phần bảo vệ môi trường và giữ gìn hệ sinh thái tự nhiên.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và khủng hoảng môi trường toàn cầu, các tri thức bản địa và mô hình sống hài hòa với thiên nhiên của cộng đồng truyền thống đang trở thành nguồn kinh nghiệm quý giá cho phát triển bền vững. Đây chính là giá trị lâu dài mà di sản mang lại cho xã hội hiện đại.
Để phát huy hiệu quả giá trị di sản trong thời đại mới, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về bảo tồn và phát triển văn hóa. Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ mạnh mẽ đối với các dự án bảo tồn di sản, khuyến khích doanh nghiệp và cộng đồng tham gia đầu tư vào lĩnh vực văn hóa và công nghiệp sáng tạo.
Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ sinh thái kết nối di sản trên phạm vi quốc gia, hình thành mạng lưới các không gian văn hóa UNESCO, các trung tâm trải nghiệm văn hóa, các câu lạc bộ kết nối di sản và hệ thống dữ liệu số về di sản văn hóa Việt Nam.
Chuyển đổi số cần được xác định là một trong những giải pháp trọng tâm trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo, dữ liệu lớn và các nền tảng số sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, quảng bá và lan tỏa giá trị di sản tới cộng đồng trong nước và quốc tế.
Nguồn nhân lực trong lĩnh vực di sản cũng cần được quan tâm đào tạo bài bản. Cần xây dựng đội ngũ chuyên gia, nhà nghiên cứu, hướng dẫn viên văn hóa và lực lượng truyền thông có kiến thức sâu về di sản và kỹ năng ứng dụng công nghệ hiện đại. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế, mở rộng kết nối với UNESCO và các tổ chức văn hóa quốc tế nhằm quảng bá hình ảnh Việt Nam, trao đổi học thuật và học hỏi kinh nghiệm quản trị di sản tiên tiến của thế giới.
Di sản Việt Nam không chỉ là tài sản văn hóa của dân tộc mà còn là nguồn lực chiến lược cho phát triển bền vững trong thời đại mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, việc kết nối di sản với du lịch, giáo dục, công nghệ và kinh tế sáng tạo là xu hướng tất yếu nhằm tạo ra các giá trị mới cho xã hội.
Quan điểm của UNESCO, hệ thống pháp luật Việt Nam và Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đều thống nhất khẳng định vai trò của văn hóa và di sản đối với sự phát triển bền vững của quốc gia. Vì vậy, phát huy giá trị di sản cần được đặt trong chiến lược tổng thể phát triển đất nước, gắn với cộng đồng, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Việc xây dựng hệ sinh thái kết nối di sản không chỉ góp phần bảo tồn các giá trị truyền thống mà còn mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế văn hóa, du lịch cộng đồng và công nghiệp sáng tạo. Đây chính là nền tảng quan trọng để phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam và nâng cao vị thế quốc gia trong thời đại mới.
Tiến sĩ Trần Ngọc Diễn
Ủy viên Ban Chấp hành Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam
Giám đốc Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Kết nối Di sản Việt Nam
Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Lao động và Xã hội



