PV: Việt Nam hiện có ngày càng nhiều địa điểm được UNESCO ghi danh. UNESCO sẽ hỗ trợ Việt Nam như thế nào trong công tác quản lý bền vững và phát triển kinh tế dựa trên di sản?
Ông Jonathan Wallace Baker: UNESCO có thể hỗ trợ Việt Nam trên hai phương diện gắn kết chặt chẽ với nhau: tăng cường quản lý bền vững các địa điểm được UNESCO ghi danh và bảo đảm di sản cùng đa dạng sinh học trở thành động lực cho phát triển địa phương theo hướng bao trùm và có khả năng chống chịu.
Trong lĩnh vực quản lý di sản, UNESCO tiếp tục phối hợp với các đối tác ở cấp quốc gia và địa phương nhằm nâng cao năng lực chuyên môn và bảo đảm các hoạt động bảo tồn phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.
Điều này bao gồm việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và năng lực thể chế; áp dụng các Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản Thế giới và các công cụ quốc tế mới nhất; thúc đẩy sử dụng các công cụ như Đánh giá tác động đối với di sản (Heritage Impact Assessment); tăng cường phối hợp giữa các ban quản lý di sản và đội ngũ chuyên gia; thúc đẩy các mô hình du lịch bền vững; đồng thời nâng cao khả năng chống chịu của các di sản trước biến đổi khí hậu và thiên tai.
UNESCO cũng nhận thấy Việt Nam còn nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế dựa trên di sản thông qua văn hóa, du lịch và các ngành công nghiệp sáng tạo.
Chẳng hạn, kinh nghiệm từ Quần thể danh thắng Tràng An cho thấy bảo tồn di sản hoàn toàn có thể gắn với sinh kế của cộng đồng, các dịch vụ du lịch địa phương và các doanh nghiệp văn hóa quy mô nhỏ. UNESCO cũng đã hỗ trợ nhiều sáng kiến tương tự thông qua các hoạt động nâng cao năng lực, phát triển kỹ năng số và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực di sản.
UNESCO đặc biệt coi trọng việc hỗ trợ các cộng đồng dân tộc thiểu số, bảo đảm họ trở thành những đối tác tích cực cũng như những người trực tiếp hưởng lợi từ quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Bên cạnh đó, UNESCO cũng hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo thông qua việc hoàn thiện chính sách, thúc đẩy hợp tác công - tư và mở rộng cơ hội cho thanh niên và phụ nữ tham gia khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa.
Cách tiếp cận này không chỉ giới hạn ở các di sản thế giới. Mạng lưới các Khu Dự trữ sinh quyển thế giới và Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO tại Việt Nam cũng mở ra nhiều cơ hội để kết hợp bảo tồn với phát triển sinh kế bền vững, giáo dục môi trường, nghiên cứu khoa học và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
UNESCO sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong các hoạt động giám sát đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu và thúc đẩy các giải pháp dựa vào thiên nhiên, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức ngày càng lớn do biến đổi khí hậu và thiên tai.
Trong thời gian tới, hợp tác giữa hai bên có thể tiếp tục mở rộng thông qua giáo dục di sản dành cho thanh thiếu niên, các chương trình nghiên cứu chung, hỗ trợ phát triển các hệ sinh thái sáng tạo và tăng cường kết nối giữa các địa điểm được UNESCO ghi danh với các mạng lưới văn hóa quốc tế, trong đó có Mạng lưới Các Thành phố Sáng tạo của UNESCO.
![]() |
PV: Việt Nam đã đề xuất sáng kiến Thập kỷ Quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững (2026–2037) và đang tăng cường tham gia các cơ chế quản trị của UNESCO. Theo ông, Việt Nam có thể đóng vai trò như thế nào trong việc thúc đẩy chương trình nghị sự toàn cầu của UNESCO trong những năm tới?
Ông Jonathan Wallace Baker: UNESCO đánh giá Việt Nam đang ngày càng trở thành một đối tác quan trọng và mang tính xây dựng trong việc thúc đẩy hợp tác đa phương.
Sáng kiến của Việt Nam về Thập kỷ Quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Sáng kiến này phản ánh sự ghi nhận ngày càng rõ rệt của cộng đồng quốc tế về vai trò của văn hóa trong giải quyết các thách thức toàn cầu, nâng cao nhận thức, tăng cường ý chí chính trị, huy động nguồn lực và thúc đẩy đầu tư cho các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã cho thấy khả năng chuyển hóa những định hướng đó thành các hành động cụ thể. Việt Nam đã tích cực lồng ghép văn hóa vào các chính sách phát triển, trong đó có Nghị quyết số 80-NQ/TW, đồng thời thúc đẩy các cách tiếp cận cân bằng giữa bảo tồn di sản với phát triển kinh tế và cộng đồng.
Việt Nam cũng ngày càng khẳng định vai trò là cầu nối trong hệ thống đa phương. Việc tham gia tích cực vào Hội đồng Chấp hành UNESCO, Ủy ban Di sản Thế giới cùng nhiều cơ chế thể chế khác phản ánh sự tin tưởng ngày càng lớn của các quốc gia thành viên cũng như sự ghi nhận đối với đường lối ngoại giao mang tính xây dựng và hướng tới đồng thuận của Việt Nam.
Trong thời gian tới, Việt Nam có thể tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt trong việc triển khai Thập kỷ Quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững thông qua việc đóng góp vào khuôn khổ thực hiện, thúc đẩy đối thoại quốc tế, huy động các quan hệ đối tác và chia sẻ những kinh nghiệm tốt về phát triển dựa trên văn hóa.
Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với nhiều bất ổn, xu hướng phân cực và những biến đổi nhanh chóng của công nghệ, UNESCO tin tưởng Việt Nam có thể tiếp tục góp phần khẳng định tầm quan trọng của hợp tác quốc tế, đa dạng văn hóa, tính bao trùm và phát triển lấy con người làm trung tâm./.
