Dự án với sự hỗ trợ từ Quỹ MSD cho các bà mẹ và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam đã chứng minh rằng các can thiệp trọng tâm dựa trên bằng chứng và phù hợp với văn hóa có thể cải thiện đáng kể kết quả sức khỏe bà mẹ tại các cộng đồng khó tiếp cận nhất của đất nước.
Trong thực tế, quá trình mang thai và sinh nở của phụ nữ bị ảnh hưởng bởi nhiều rào cản khiến phụ nữ không nhận được sự chăm sóc kịp thời. Nhằm giảm nguy cơ tử vong ở các bà mẹ, chương trình đã hỗ trợ địa phương triển khai các dự án về "Cô đỡ thôn bản"; cung cấp đào tạo, tư vấn và trang thiết bị cho các trung tâm y tế và hỗ trợ kinh phí cho phụ nữ mang thai để đảm bảo họ được chăm sóc tiền sản và có thể sinh con an toàn tại bệnh viện, trạm xá ở 60 xã dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn thuộc sáu tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
Phát biểu tại sự kiện, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức cho biết sự thành công trong suốt 4 năm triển khai dự án là chưa ghi nhận trường hợp bà mẹ tử vong trên tất cả các địa bàn trong suốt thời gian thực hiện. Để đạt được thành tựu cần nhiều nỗ lực để đảm bảo sức khỏe bà mẹ toàn diện thông qua đào tạo hơn 200 cán bộ y tế và 650 tình nguyện viên cộng đồng, tiếp cận 17.000 thành viên cộng đồng thông qua 2.300 sự kiện địa phương.
![]() |
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trí Thức phát biểu tại hội nghị. |
Bà Katharina Geppert, Tổng giám đốc MSD Việt Nam nhấn mạnh: “Kết quả của sáng kiến kéo dài 4 năm này cho thấy khi đổi mới sáng tạo, sự tham gia của cộng đồng và quan hệ đối tác chặt chẽ cùng kết hợp lại, chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra những thay đổi có ý nghĩa về sức khỏe bà mẹ - ngay cả ở những cộng đồng xa nhất. Chúng tôi tự hào được hợp tác cùng Bộ Y tế và UNFPA để hỗ trợ các giải pháp giúp bảo đảm quá trình mang thai và sinh con an toàn hơn cho phụ nữ tại các vùng dân tộc ít người của Việt Nam”.
Đồng quan điểm, Ông Matt Jackson, Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam cho rằng “Sáng kiến này cho thấy các phương pháp tiếp cận đổi mới và phù hợp với văn hóa có thể tháo gỡ những rào cản mà phụ nữ dân tộc thiểu số phải đối mặt khi tiếp cận các dịch vụ sức khỏe bà mẹ. Những bài học kinh nghiệm thu được cung cấp bằng chứng vững chắc để cung cấp thông tin cho các chính sách quốc gia và địa phương nhằm thu hẹp khoảng cách về sức khỏe ở các vùng dân tộc ít người”.
Bên cạnh những nỗ lực về y tế, truyền thông được đánh giá là phương tiện hữu hiệu để cung cấp kiến thức nhằm thay đổi hành vi và lan tỏa tới cộng đồng. Trong dự án, hoạt động truyền thông đã được chú trọng thiết kế phù hợp với ngôn ngữ và văn hóa địa phương, do chính cộng đồng dẫn dắt giúp tăng khả năng chấp thuận của cộng đồng và thay đổi hành vi hiệu quả.
Trong quá trình làm việc thực tế tại mạng lưới cô đỡ thôn bản, bà Nguyễn Thị Thu Hiền, nữ hộ sinh tại tỉnh Lai Châu chia sẻ: “Truyền thông theo nhóm nhỏ là phương thức truyền thông hiệu quả, tạo sự thông cảm gần gũi đồng thời hiểu và học hỏi phong tục tập quán của cộng đồng. Đặc biệt, sự tham gia của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong gia đình sẽ đem lại hiệu quả cao hơn”.
Tuy nhiên, buổi tham luận cũng đặt ra những vấn đề để tuyển chọn và giữ chân cán bộ y tế trước sự luân chuyển nhân sự tại các cơ sở sau khi sáp nhập. Điều này có thể gây khó khăn cho việc duy trì năng lực sau đào tạo, trong khi một số trạm y tế xã còn thiếu thiết bị và phòng dịch vụ đạt chuẩn quốc gia.
Trong phiên thảo luận, các bà đỡ tại các khu vực đã đề cập đến những thuận lợi, khó khăn gặp phải trong quá trình công tác thực tế. Tuy đại diện ở các tỉnh sau công tác tập huấn từ dự án đều cảm thấy tự tin hơn về kiến thức và nghiệp vụ của mình. Chị Đinh Thị Yên, hộ sinh tỉnh Sơn La chia sẻ: “Tại trạm y tế tôi chủ động tham gia vào các hoạt động để nắm vững kĩ thuật chăm sóc bà mẹ và thực hiện quy trình cấp cứu chảy máu sau sinh. Hàng năm tôi được trung tâm kiểm soát tỉnh kiểm tra hỗ trợ hướng dẫn nên khá tự tin khi thực hiện nhiệm vụ”. Thế nhưng các cô đỡ bày tỏ mong muốn được đầu tư thêm về cơ sở vật chất cũng như có thêm các buổi tập huấn thực hành ở địa phương để trang bị thêm về tri thức chăm sóc sản phụ trong suốt thai kì để nâng cao được chất lượng sức khỏe ở cộng đồng.
![]() |
Ông Matt Jackson, Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam trao đổi tại sự kiện. |
Để duy trì đóng góp và mở rộng tác động của dự án ông Đinh Hà Nam, Phó giám đốc Sở Y tế tỉnh Gia Lai cho rằng : “Cần sự tham gia của người dân tại địa phương, yêu cầu xây dựng kênh đào tạo, tuyển dụng nhân lực phối hợp giữa các trường đại học và địa phương, xem xét đào tạo bác sĩ theo tuyến để đảm bảo công tác y tế kịp thời”.
Thảo luận về chú trọng đầu tư tuyến xã, ông Đoàn Thanh Phúc, Phó Giám đốc CDC tỉnh Sơn La nhấn mạnh việc quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng đồng đều giữa các tỉnh vùng sâu vùng xa khi được nhận hỗ trợ kinh phí từ dự án. Ông đề xuất tổ chức hướng dẫn ngắn ngày cho tuyến xã, cập nhật tập huấn kiến thức cho nhân viên, cô đỡ thôn bản về các kĩ thuật chăm sóc sản phụ đặc biệt quan tâm với các trường hợp đỡ đẻ tại nhà, đẻ rơi. Đồng thời, các cơ sở y tế phối hợp bệnh viện đa khoa tỉnh tổ chức đoàn giám sát hỗ trợ chuyên môn bằng hình thức cầm tay chỉ việc, rà soát nơi tỷ lệ cao để chú trọng hỗ trợ và tổng hợp báo cáo cho kế hoạch hỗ trợ phù hợp.
Kết quả và bài học của dự án đang được chia sẻ rộng rãi để tích hợp các thực hành thành công vào các chương trình quốc gia và cấp tỉnh, bao gồm Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Y tế, Dân số và Phát triển. Những kết quả này hỗ trợ trực tiếp cho việc đạt được Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội Quốc gia giai đoạn 2026–2030.
Hội nghị cũng chỉ ra tiềm năng nhân rộng và tính bền vững của dự án. Mô hình hoạt động có thể tích hợp với các chương trình, đề án có liên quan, trong đó có các nội dung của chương trình MTQG Y tế - Dân số và Phát triển giai đoạn 2026 - 2035. Chuẩn hóa và áp dụng rộng rãi tài liệu đào tạo, quy trình chuyên môn, năng lực đội ngũ cô đỡ thôn bản và các sản phẩm truyền thông. Nhằm tạo nền tảng bền vững để duy trì hiệu quả, dự án trao quyền cho địa phương tự tổ chức truyền thông và phối hợp chặt chẽ giữa các tuyến.

